Giỏ hàng của bạn trống!

Tin Tức & Sự Kiện

18 họa sĩ đương đại vẽ minh họa ‘Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp’

18 họa sĩ đương đại vẽ minh họa ‘Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp’

Các họa sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam đã tham gia vẽ minh họa cho tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” nhân dịp nhà văn đón tuổi 70. Đại diện Công ty sách Đông A cho biết, đơn vị này vừa phối hợp cùng NXB Văn học ấn hành tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”. Hơn một năm trước, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã ngỏ ý muốn in một cuốn sách nhân dịp ông 70 tuổi. Sau một thời gian chuẩn bị, cuốn sách đã chính thức ra mắt bạn đọc với hình thức hiện đại. Lần xuất bản này, “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” có 3 ấn bản: Cao cấp, S500, S100. Ấn bản cao cấp được in bìa cứng, có bìa áo. Bìa áo bản cao cấp và bản giới hạn S500 được Đông A thực hiện theo ý tưởng là một bảng màu với các chấm tròn xen kẽ những trích đoạn tranh minh họa của 13 họa sĩ đương đại. Bìa áo in bằng công nghệ metalize. Ruột in bằng mực vi sinh trên giấy GV76-BB định lượng 100gsm, khổ lớn 18.5×26.5 cm, dày 560 trang. Trong lần xuất bản này, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp quyết định chọn 42 truyện ngắn tiêu biểu. Ông cũng trực tiếp sắp xếp theo thời gian sáng tác, bắt đầu với “Những ngọn gió Hua Tát” rồi tới “Huyền thoại phố phường”, “Chảy đi sông ơi”, “Muối của rừng”… và cuối cùng là truyện ngắn “Quan Âm chỉ lộ”. Đáng chú ý, cuốn sách có in bài viết mới của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Đó là bài “Nói chuyện một mình”. Bài viết này được ông viết đầu năm nay (2020), thể hiện những trăn trở, suy tư với nghề viết, thông qua hình thức hỏi – đáp. Nguyễn Huy Thiệp quan niệm nghề văn là một nghề, cũng giống như những nghề khác, nhưng khác ở chỗ: “Có lẽ bởi nó vô chiêu, không có hình tướng. Nó là sản phẩm và kết quả của hoạt động vô thức nhiều hơn ý thức. Công cụ của nó là ngôn ngữ. Nó gần với tôn giáo và chính trị. Nó đi tìm Đạo, tìm ý nghĩa cuộc sống, tìm sự giác ngộ”. Điểm nhấn thu hút sự chú ý trong tuyển truyện ngắn kỷ niệm 70 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đó là sự tham gia của các họa sĩ hàng đầu thực hiện. Cụ thể, ở ấn bản cao cấp có minh họa của 17 họa sĩ đương đại Việt Nam: Thành Chương, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Phan Cẩm Thượng, Hà Trí Hiếu… và họa sĩ Lena Sjoberg (Thụy Điển). Riêng ở ấn bản S100 – ruột in trên giấy mỹ thuật Conqueror High White Laid 120 gsm, có chữ ký trực tiếp của tác giả, bìa da – sẽ có thêm 13 minh họa màu mới, do các họa sĩ đương đại như Đặng Xuân Hòa, Lê Thánh Thư, Võ Tá Hùng, Thành Chương, Trịnh Tú… vẽ. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950. Ông là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam, với những truyện ngắn đặc sắc, mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích, hoặc lịch sử. Bên cạnh truyện ngắn, ông còn viết tiểu thuyết, tiểu luận, kịch… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng được nhận huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (2007), giải thưởng Premio Nonino, Italy (2008). Đầu năm nay nhà văn bị tai biến phải nhập viện điều trị. HOÀNG THU PHỐ/ĐĐK          

Văn Hóa Văn Nghệ

Sách để làm gì?

Sách để làm gì?

Người lớn đọc sách góp phần bồi đắp chính mình và chia sẻ giá trị với cộng đồng, con trẻ đọc sách xây dựng tương lai của mình và đất nước. Tôi và bạn, nếu chung tay và bền bỉ nỗ lực, biết đâu có thể xây dựng thói quen đọc sách trở thành cơm ăn nước uống hàng ngày trong xã hội… Tết 2015, tôi thực hiện một chuyến đi bộ từ Hà Nội đến Sài Gòn để kêu gọi toàn xã hội làm tủ sách cho con trẻ, đặc biệt ở nông thôn. Đi đến đầu tỉnh Quảng Bình, tôi nhận một cuộc điện thoại. Người gọi nói rằng chị bị mù, “tôi nghe tin trên đài tiếng nói anh đang đi bộ xuyên Việt, hôm nào anh đi qua Quảng Bình thì cho tôi gặp”. Tôi đã gặp chị. Chị nói cuộc sống người mù quanh quẩn ở nhà và rất muốn xin một chiếc radio để nghe sách nói. Tôi đưa câu chuyện lên trang cá nhân của mình, sau đó có người tặng máy nghe sách nói cho chị. Cũng trong chuyến đi, tôi còn nhớ ánh mắt và lời cầu xin “chú ơi, chú cho cháu cuốn sách, cháu thích sách mà không có tiền” của học sinh lớp 6 ở xã Phù Việt, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Cậu làm tôi nghĩ tới 15 triệu trẻ em nông thôn Việt Nam, chắc hẳn có nhiều đứa trẻ đang khát khao sách như thế. Hành trình xuyên Việt 1.750 km trong 123 ngày của tôi thực ra là rất ngắn so với hành trình để phá dỡ những núi đá đói sách gây nên nạn ít đọc của người Việt Nam trong nhiều thập niên. Tôi hy vọng chuyến đi bộ của mình có thể giúp tăng tốc chương trình “Sách hóa Nông thôn” cũng như các chính sách khác thúc đẩy văn hóa đọc của xã hội. Theo ngành Giáo dục, Việt Nam có hơn 90% dân số biết chữ. Thế nhưng, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hàng năm mỗi người Việt Nam chỉ đọc chưa đầy một cuốn sách. Mohandas Gandhi cho rằng, biết chữ mới chỉ là sự khởi đầu của giáo dục. Tôi nghĩ, việc biết chữ phải dẫn lối con người đến với tri thức và nhân cách. Tôi đã “kêu” nhiều và tiếp tục “kêu” cho đến khi trẻ em Việt Nam được nghe và đọc sách nhiều như trẻ em Mỹ, Tây âu. Năm 1998 và 1999, tôi làm thủ thư trong thư viện khoa Ngoại ngữ, Đại học Vinh để nghiên cứu về thư viện. Trong không gian nhiều ngàn đầu sách ấy, nhiều lần tôi mơ ước kiến thức từ những bộ sách quý như bộ bách khoa từ A đến Z, tác phẩm “Kỳ vọng lớn lao” của nhà văn người Anh Charles Dickens, tập sách tranh của hoạ sĩ người Ý Raphael hay hoạ sĩ Leonardo da Vinci sẽ đến tay độc giả nước Việt. Và những kiến thức vô giá của nhân loại sẽ thẩm thấu vào não hàng chục triệu con người đói sách. Sau này, tôi thường dùng khái niệm “tương tác tri thức” để nói về việc đọc sách hay tranh luận. Tôi luôn tưởng tượng giá mà lượng tri thức khổng lồ trong thư viện biến thành các sản phẩm đầu ra cụ thể trong cuộc sống, nghề nghiệp của những sinh viên thế hệ tôi. Nếu chúng tôi đã được chuẩn bị nền đọc tốt, đất nước hẳn đã khác nhiều. Tôi cho rằng sách vô cùng quan trọng trong tiến trình xây dựng quốc gia. Đọc lịch sử Mỹ, chúng ta thấy rằng nước Mỹ là nơi tụ hợp của văn minh châu Âu, bởi những người dám vượt đại dương tìm miền đất mới. Nhiều người trong số họ hẳn nhiên đem theo tri thức và tinh thần của những Aristotle, Plato, Archimedes, Pascal, Galileo hay các hiệp sĩ trong sử thi Beowulf. Kế đến, hậu duệ của những người tiên phong đưa giá trị châu Âu sang miền đất mới tiếp tục tạo nên nước Mỹ vĩ đại bởi họ thấu hiểu tầm quan trọng và tự do do mà tri thức đem lại. Những ai ở Mỹ đều biết rằng, phần nhiều trẻ em Mỹ được “chạm” vào sách từ lúc 0 tuổi, qua âm thanh. Một tuổi trở đi các em được nghe sách từ cha mẹ, thầy cô, từ thủ thư của thư viện công cộng. Lên tiểu học, các em được tiếp cận với thư viện lớp khoảng 200 đến 500 đầu sách, thư viện trường với nhiều ngàn đầu sách. Tôi đến trường trung học Albany, thành phố Albany, California, năm 2018 và quan sát thấy thư viện trường có đến 12.000 đầu sách thuộc đủ lĩnh vực. Bên cạnh đọc sách, học sinh các cấp được học qua thực hành như chế tạo đồ vật, đặc biệt là STEM và STEAM, được đến các trung tâm khoa học để thấy các sản phẩm của tri thức và sáng tạo. Nhờ có hệ sinh thái lĩnh hội tri thức rất đa dạng nên các phát minh, sáng chế, giải thưởng lớn… phần nhiều tập trung ở nước Mỹ. Việt Nam có hơn 70 triệu người sinh ra và lớn lên ở nông thôn, chịu nạn đói sách dài dằng dặc mấy thập niên. Vấn đề ở chỗ, số nhiều trong những người đói sách ấy, nay là giáo viên, nhà quản lý, có những người không đủ nhạy cảm để hiểu tầm quan trọng của sách đối với trẻ từ mầm non đến trung học phổ thông như thế nào. Họ dường như chẳng chịu thấy rằng sức mạnh của quốc gia đến từ việc tạo cơ hội thu nhận tri thức cho con trẻ từ nhỏ. Những nhà thiết kế giáo dục trong nhiều thập niên qua đã không đưa ra các danh mục sách mà học sinh cần đọc như nhiều nước đã làm. Trong hành trình đi bộ từ Hà Nội đến Sài Gòn, tôi phỏng vấn hơn 3.000 người, chỉ hơn 30 người biết đến cuốn “Những tấm lòng cao cả”, 20 người biết đến tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và 20 người biết đến tiểu thuyết “Robinson Crusoe”, đều là những tác phẩm nổi tiếng của nhân loại và Việt Nam. Thiếu tri thức từ sách là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người không thể dạy con cháu họ đúng cách. Vô số đứa trẻ lớn lên trong sự sợ hãi bày tỏ ý kiến, tư duy một chiều và nghèo nàn khát vọng; có cả hiện tượng ăn cắp không biết xấu hổ, nói dối không biết ngượng, xem thường các giá trị phổ quát như trung thực, từ ái, sáng tạo song lại tán dương và theo đuổi những thứ tầm thường. Tôi cũng cho rằng trí tuệ của những nhà quản trị quốc gia tài giỏi có một phần đến từ sách, nếu như nhìn vào văn hóa đọc sách của dân tộc Israel và nhiều dân tộc khác. Họ đã bằng tri thức sâu rộng, tư duy rộng mở để tìm ra cái mới, định dạng tương lai quốc gia. Công dân có tri thức thì tự giác, hiểu quyền và trách nhiệm của mình với cộng đồng. Nếu ví sách là nguồn tri thức quan trọng của quốc gia, “rừng tri thức” của các nước Tây âu, Mỹ già nhiều ngàn tuổi. Trong những khu rừng đó, vô số cây cổ thụ cao lớn đã tỏa mát quốc gia đó và nhân loại, được trân qúy. “Rừng tri thức” của Việt Nam vốn đã hiếm cây lớn, lại chưa biết gieo giống và chăm sóc tốt, đang cần bàn tay vun vén. Người lớn đọc sách góp phần bồi đắp chính mình và chia sẻ giá trị với cộng đồng, con trẻ đọc sách xây dựng tương lai của mình và đất nước. Tôi và bạn, nếu chung tay và bền bỉ nỗ lực, biết đâu có thể xây dựng thói quen đọc sách trở thành cơm ăn nước uống hàng ngày trong xã hội. Trong mục tiêu chung đó, tôi hy vọng càng sớm càng tốt, những người được giao nhiệm vụ thiết kế giáo dục nước nhà có hành động để tạo ra cơ hội được nghe và đọc sách của hàng chục triệu đứa trẻ, nhất là ở nông thôn. Nếu kiên trì gieo hạt và tưới tắm cây tri thức, ắt sẽ có rừng tri thức, nơi nhiều cây lớn tỏa mát tương lai. NGUYỄN QUANG THẠCH

Khu Vườn Sáng Tác

Một trang sử làng - Truyện ngắn Nguyễn Hiệp

Một trang sử làng - Truyện ngắn Nguyễn Hiệp

Nhà văn Nguyễn Hiệp ở Bình Thuận vừa đạt Giải ba Cuộc thi Truyện ngắn (2018 – 2020) của Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm với hai truyện Một trang sử làng, Dự án chôn dọc. VHSG chúc mừng nhà văn Nguyễn Hiệp và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc truyện ngắn Một trang sử làng của anh! Nhà văn Nguyễn Hiệp Chiếc đồng hồ treo tường khẽ khàng tích tắc, tích tắc, những âm thanh duy nhất độc chiếm không gian từ khuya khoắt đến rạng sáng. Im mà không yên! Các bệnh nhân trên giường hoặc nằm im hoặc đang chìm trong cơn lịm ngất sau những vật vã đau đớn hoặc sau khi bị thuốc giảm đau liều cao đánh lừa cảm giác. Giữa hai giường bệnh, trên những chiếc chiếu xếp đủ kiểu, những người nuôi bệnh cũng đang chìm vào cơn chập chờn mệt mỏi. Lịch mở mắt, anh không nhớ nổi mình đã ngủ thiếp đi từ lúc nào, thật sự anh không dám động cựa sợ ảnh hưởng đến mọi người. Với thói quen cả nghĩ của một người viết lách anh phân vân  nhiều khi gốc rễ của thi ca và đạo đức, anh nghĩ cũng có thể là âm thanh chứ chưa hẳn chỉ là những ngôn từ có nghĩa, âm thanh nói được nhiều hơn, sâu hơn… Nghĩ ngợi một thoáng Lịch lại cười mỉa mình chẳng thực tế một chút nào cả. Vấn đề trước mắt là chăm vợ bệnh, chăm vợ bệnh, căn bệnh tiểu đường đến hồi di căn đã tàn phá cơ thể của vợ Lịch. Lịch lẳng lặng nhìn khuôn ngực vợ nhè nhẹ phập phồng, anh yên tâm nằm xuống nhưng vội chồm người trở lại, chiếc giường sát bên của người đàn ông tên Xanh, người vừa trò chuyện với anh đêm hôm qua, giờ trống trơn. Lịch rùng mình. Bàng hoàng. Cái chết đã đến ngay sát trên đầu, cách chưa quá một sải tay mà mình không hề hay biết. Vậy là ông ấy đã ra đi trong đêm khuya. Có khi nào ông ấy đã ra đi khi Lịch đang nói nửa chừng câu cuối? Chết trong lúc nghe à?  Chết trong lúc nói à? Trời đất! Lịch xua nhanh ý nghĩ tự trách vì bị cuốn theo cách nói như phun trào, không dừng lại được của ông Xanh. Đời sống con người sao mà mong manh quá, Lịch khẽ thở ra cắt đứt hết các ý nghĩ vừa thoáng hiện trong đầu. Đã nằm khoanh người hình số bốn gọn gàng với chiếc chiếu xếp nhỏ nhưng Lịch không tài nào chợp mắt được nữa. Cắt. Buông. Xả. Không ngẫm, nghiền gì nữa cả. Lịch ra lệnh cho mình nhưng rồi đành bất lực. Bao nhiêu ý nghĩ cứ vòng vo trong đầu, nhiều ý nghĩ tiếp nối như những vòng tròn đồng tâm, lan ra, tỏa ra mãi. Người đàn ông bệnh nhân vừa ra đi ấy tên là Xanh. Trước đây, khi nhận hợp đồng viết lịch sử một làng căn cứ kháng chiến ở phía bắc tỉnh, chính xác là quyển Lịch sử Đảng bộ xã Bà Ri, Lịch đã gặp ông Xanh, ông là người anh hùng, một dũng sĩ diệt Mỹ bắn máy bay rất nổi tiếng của tỉnh nhà. Ông đã được cử đi báo cáo thành tích khắp nơi về chiến thuật táo bạo, gan dạ, đã đào hầm trên đồi, ngồi vào và phủ lá khô lên trên, đợi chiếc máy bay xà xuống thật thấp, ngay sát trên đầu mới nổ súng. Chiếc máy bay tàu gáo bị bắn trúng bộ phận chứa xăng phụt cháy, trượt xuống triền đồi và nổ tung. Chiến tích bất thần đó đã thay đổi cuộc đời người du kích tên Xanh, ông được giấy khen từ Ủy ban kháng chiến huyện, tỉnh, được phong là dũng sĩ, được cất nhắc lên làm trung đội trưởng. Sau giải phóng, 1975, ông Xanh là người đi báo cáo điển hình khắp nơi, cấp trên gửi xuống cho ông bản báo cáo được viết hoàn chỉnh để ông đi đọc trong các đại hội tổng kết phong trào, là chủ tịch xã lâm thời tiếp quản địa phương… Sau mấy chục năm, Lịch không ngờ gặp lại ông nơi bệnh viện ở thành phố xa xôi này, giường của vợ Lịch lại nằm sát bên giường ông Xanh vì vậy mà cuộc trò chuyện của Lịch và Xanh nối tiếp nhiều đêm liền. Ban ngày, một cô gái đến chăm sóc, đổ bô cho ông ấy, chiều đến thì nhận tiền thù lao và ra về. Đêm, ông nằm một mình, không thấy bóng dáng người thân nào đến thăm.Ông luôn nằm bất động trên giường, hai mắt dán ám lên trần. Đó là người đàn ông trịch thượng, khó hòa đồng nhưng với Lịch, tự nhiên ông ấy lại thường tâm sự, thường kể chuyện, mà đã kể được thì kể như trút, như đổ, kể như ma nhập, như thần quỷ mượn xác mượn mồm, kể thì truyền âm nhập mật, môi không động cựa gì nữa nhưng mạch chảy của câu chuyện vẫn tiếp tục hiển hiện trong đầu Lịch, âm thanh của các tình tiết, các chuyển động, các sự kiện vẫn tiếp tục đầy ắp hai lỗ tai Lịch. Cũng có thể ông ấy mừng vì gặp lại người quen cũ, một người đã từng viết quyển sử làng kháng chiến ngày nào, một người biết rõ thành tích anh hùng của ông, sẽ đồng cảm với những câu chuyện của ông, mà cũng có thể lúc này nói ra được điều gì đó sẽ khiến trái tim ông vơi nhẹ trước khi bước xuống tuyền đài, một bước chân kết thúc mà ông đã biết trước. Có một sợi chỉ u uất, thất vọng, tuyệt vọng gì đó chạy qua những câu chuyện, những tâm tình rời rạc, đứt đoạn, những chứng kiến ghê rợn, những thật thà và cả những hoang tưởng mà ông thố lộ. Và bao giờ cũng vậy sau khi nói về mình, về ngôi nhà và nước mắt của mình, về chiến tích anh hùng, về chuột ma và gián quỷ bao giờ ông cũng ném một cái nhìn dài lên trần nhà và kèm theo một tiếng thở ra thườn thượt. Ông Xanh ở đâu đến nhập viện, đã từng làm gì trong phòng chỉ duy nhất mình Lịch biết. Ông Xanh kể mình đang sửa ngôi từ đường ở xã Bà Ri thì ngôi nhà đã đổ ập, ông bị té từ trên cao xuống và được chuyển đi cấp cứu rồi nhập viện. Nhưng những điều biết ấy giờ trở nên vô nghĩa, ông ấy đã sang phòng đối diện, tức nhà xác. Tuyệt tự. Cả dòng họ ông đã tuyệt tự vì ông là cháu nội đích tôn mà cũng là cháu trai duy nhất. Mẹ ông chỉ sinh ra ông rồi qua đời vì một cơn bệnh nghặt nghèo. Ông lại không lấy vợ. Có mấy đám mai mối cũng khá khi ông còn làm chủ tịch nhưng mấy người đàn bà, mấy cô gái đó đều quay mặt bỏ đi sau lần lên giường đầu tiên vì chứng bệnh di tinh đã làm cho ông trở nên bất lực. Đêm hôm sau, lúc đi mua thức ăn cho vợ, bất chợt nhìn vào căn phòng ấy và rùng mình, một cơn rùng mình làm nhợn lạnh cả hồn cả xác làm cho Lịch chợt nhớ những câu chuyện thì thầm hàng đêm của ông Xanh. Trước mắt Lịch luôn bùng bùng ngọn lửa lạnh mà người ta sẽ thiêu thân xác của ông Xanh, nó không phải là ngọn lửa làm cho mọi thứ tinh khiết trở lại. Lịch lóa mắt trước ngọn lửa trắng vàng chói gắt và đâu đó phía bên kia ngọn lửa là đám tro xanh đang hình thành, đang rơi xuống, đang tung tóe, đang xoay vòng như đám lá bị bất ngờ xới tung lên rồi lã tã rơi xuống, rơi xuống, tụ tan theo các hình thù ma quái. Những ngọn lửa lần hồi chết đi, nó không tắt phụt như đời người, nó rơi vào ngọn lửa khác, nó bị cuốn vào, bị nuốt trọn trong ngọn lửa khác. Nỗi cô đơn về cuối đời của ông Xanh vẫn còn đó trong lòng Lịch nhưng thân xác, tâm hồn cô đơn ấy lại đang biến hóa, đang tiêu tán bớt đi, đang cô lại trong chút tro xanh. Một đời người, dù là người anh hùng cũng chỉ còn chút này đây sao? Có điều gì đó như là sự vô vọng tràn ngập, chiếm cứ tâm hồn Lịch. Những lần sau này mỗi khi nhìn qua khung cửa của căn phòng đối diện Lịch đều thấy đám tro ấy lờ đờ bay bay, một thứ xanh xám ám ảnh, những hạt tro thưa thớt vừa đủ gợi lại hình ảnh những hành vi vô thức nào đó. Quang cảnh của lửa mà Lịch mường tượng không làm anh khiếp sợ bằng thứ tro xanh lạnh lẽo, thứ vật chất còn lại của một kiếp người. Và rồi, bao giờ cũng vậy, cái lỗ phủ lá vàng khô bay tung tóe dưới cánh quạt máy bay, những cái hố đen đầy chuột và gián lại hiện lên, đùn lên làm cho Lịch thấy mình cũng không còn là mình nữa, mình biến thành ông Xanh, cũng giống như trong ông Xanh luôn có một kẻ khác. Nhợn. Sợ hãi. Lạnh lẽo. Cô đơn. Bất lực. Từ lúc còn là quả cầu nhân tính nhỏ nhoi trong tử cung đến một gã Xanh nếm đủ mùi cay đắng của cuộc đời, một gã Xanh bị câu chữ trong những bản báo cáo thành tích do cấp trên viết hộ tạo nên sự hoang tưởng bản thân và đã cả đời mình hô hào về sự hoang tưởng, cổ súy về sự hoang tưởng, cả đời xây dựng cuộc sống trên cái đầm lầy không đáy giờ chỉ còn nhúm tro xanh này thôi sao? Nhúm tro xanh chứa gì trong đó? Tất cả mà cũng không gì cả. Cuộc đời của ông Xanh kể cũng như dấu chấm cho một dòng họ. Ba đời nhà ông đều cầm súng chiến đấu, hầu hết nằm lại trên chiến trường, người sống  sót trở về cũng không thoát được nỗi niềm hoài cổ với những kỷ niệm thời lửa đạn vì vậy mà theo lời mô tả của ông Xanh thì bốn bức vách của ngôi từ đường ngoài các bức hoành phi sơn son thếp vàng, ngoài các bài vị viết chữ nho còn lại đầy những vật liên quan đến kháng chiến. Treo dày trên bốn bức vách, móc đầy trên bốn cột trụ là các quân dụng giữ lại được và những khung kính ghi nhận chiến tích. Những bằng Tổ quốc ghi công để kín trên cái tủ thờ to lớn và cả trên bệ thờ thấp. Những giấy chứng nhận huân huy chương, giấy khen, bằng khen treo xít nhau thành hàng ngang trên hai vách tả hữu. Những cái mũ cối gắn sao. Những bình toong nhôm méo mó. Những bộ quân phục bạc màu bọc trong túi ni lông lớn. Trên tường còn có cả một lưỡi lê đã sét rỉ… Lịch cảm thấy mệt mỏi vì những suy nghĩ và liên tưởng đang ám vào đầu óc, anh như người mất điện hoàn toàn trong những ngày sau cái chết của ông Xanh, anh thấy như một phần con người mình đã vỡ vụn, đã thành tro, những trang sử mà anh dày công viết ra một thời với lòng nhiệt huyết, với sự hăng say, trong đó, anh một lần nữa tô đậm lên hình ảnh người anh hùng, giờ có gì đó đang làm trĩu trái tim anh. Làm sao mà lại đến nỗi này!? Sống sao mà lại đến nỗi này?! Câu hỏi thảng thốt dành cho cả Lịch, cho cả người đã chết đi sống lại và đã chết thật trong lần cuối cùng này là ông Xanh. Một câu hỏi dành cho những cơn ác mộng sẽ không bao giờ được trả lời. *** Bục. Bục. Bục. Tiếng búa nện còn vang trong ký ức gần đây. Hàng vạn điểm sáng trắng rõ dần trong vòm tối, Xanh đã thấy những chuyển động loạn xạ, ma quái. Đất liền trời. Những điểm sáng trắng sắc nét. Xanh quay về, đi vào trong xác mình, vừa hoàn hồn Xanh lại thấy những điểm sáng trắng bén nhọn tia lên, chuyển động nhanh dần, nhanh dần, tràn, ùa ngập cơ thể. Cơn nhột nhạt không thể chịu nổi đang truyền lan, cơ thể Xanh uốn lượn, dợn lạnh từng hồi. Lục phủ ngũ tạng bị đánh thức, dựng dậy, khuấy động, kinh hãi tột độ lặp lại, người đột ngột duỗi ra, cứng đơ, luồng điện loạn rùng rùng, rân rân qua mọi mạch máu nhỏ nhất phục hồi từng phần mê cung ký ức tưởng đã biến mất hoàn toàn. Những ký ức mới nhất lần lượt hiện mồn một như ai đó vừa lộn trái một cái túi đầy ắp. Sống nhà, chết mồ. Nhưng sửa nhà dễ điên cái đầu. Sửa ngôi từ đường càng điên cái đầu hơn. Sửa từ đường không tốn tiền tốn của nhiều cho phòng bếp, phòng vệ sinh, một đầu vào và một đường thải ra như nhà bình thường, không sau cao hơn trước, phòng bếp to hơn phòng khách, dưới hơn trên, phụ thành chính. Không phải tốn tiền cho sự đảo lộn nhưng lại tốn quá nhiều cho các khoản gìn giữ, chống đỡ. Có làm có biết. Xanh đang ngồi giữa ngôi từ đường. Hai tay ôm đầu. Mười ngón tay bóp chặt bộ não với bao suy tính, bao dây cà dây muống phải phải không không. Đầu Xanh, một đầu nhưng xuất hiện ba khuôn mặt, ba mặt với những biểu hiện mâu thuẫn với nhau đã làm Xanh điên lên, từng khuôn mặt lại trở chứng với chính mình, lông mày chống lại cơ mặt, môi trên nghịch môi dưới, càng làm Xanh điên cái đầu hơn. Đầu Xanh ngẩng lên cụp xuống trên cổ. Đầu Xanh lắc qua lắc lại trên cổ. Đầu Xanh đang xoay vòng tròn trên cổ. Xanh cố cưỡng lại nhưng lực bất tòng tâm. Những con số, những hình ảnh cũ mới trườn ra, bò ra tràn lan, lênh láng quanh Xanh. Tiền bạc, mượn đầu này đắp đầu kia thì lo được, xoay sở, lì nợ là nghề của Xanh, nhưng sửa thế nào cho ngôi từ đường trụ được, vừa giữ hồn cốt, gốc gác, vừa sinh hoạt, ăn ngủ theo nếp hợp thời. Cả vấn đề! Xanh thở hắt, lầm bầm một mình. Không thể bỏ hết, phải tận dụng, phải giữ kỷ niệm, phải nâng niu tình nghĩa, phải biết có trước có sau, phải dòng họ, phải gia đình, phải của mình. Vật có hơi người. Vật có trường điện. Vật gắn với người. Biết. Biết. Biết nhưng nan giải. Xanh còn lạ gì những mệnh lệnh gìn giữ ấy, các bậc cha chú đã nói về điều này như thần, họ đã dẫn lời những vĩ nhân đã chết, họ đã tỏ thái độ với giọng rượu hào sảng, họ đã khóc tức tưởi, lên giọng xuống hơi như diễn một vở kịch vĩ đại. Nó lậm trong máu. Nó lậm trong tim. Nó lậm trong tế bào sống của Xanh. Nó trong niềm tin duy nhất của Xanh. Chính nó đã tạo ra con người thứ hai của Xanh. Khó. Khó vì những thứ để yên thấy nguyên nhưng đụng tới thì rã. Xanh thích lời huấn ca lúc còn sống mẹ thường nhắc: “Tình vốn đựng trong chiếc hũ đất mỏng mảnh dễ vỡ” nhưng Xanh cứ mường tượng sự nát vụn đã gắn với mình từ lâu và Xanh luôn sợ hãi con người không tình yêu của mình, ông không còn biết yêu bất cứ thứ gì, bất kỳ ai, trừ bản thân mình. Sống nhà, chết mồ. Nhưng sửa nhà dễ điên cái đầu. Sửa khó hơn xây mới. Khó khăn, khó nhọc, khó nghĩ, khó dự tính, khó chu toàn với những góc nhà, những đồ vật, những kỷ niệm gắn bó với dòng họ mình, với gia đình, dù chỉ một mình ông lùi lũi đi ra đi vào cũng là một gia đình… Không biết cái sự phát sinh sẽ thòi ra từ hạng mục nào. Trăm bề khó. Biết. Biết. Biết nhưng chưa thể tường tận nổi chỗ nào sẽ sụp xuống, toác ra từ một nơi từ đường, vốn bao thế hệ từng sinh sống, quây quần, sinh tử. Cầm búa, cầm bay chạm tới mới lùng bùng, vào cuộc thật sự mới quẫn trí, đối mặt với những tình tiết đời sống đã qua chợt hiện lại trong cuộc sửa sang khủng khiếp này mới thật sự mệt mỏi… Điên cái đầu. Xanh ngồi gục, bứt tóc vò tai nhìn đống vôi vữa vàng đục trộn sét, mật đường với nước ngâm dây tơ hồng, có từ thời ông bà cố nội, Xanh không dám chắc bức tường cổ này là một loại giá trị nhưng Xanh thích nhìn những thanh tre đực đan rui mè trụi trũi, chắc nụi, nâu bóng qua thời gian, Xanh nhìn mê man những đống xà bần tạp nhạp, những lôm chôm, lông chông xung quanh, Xanh ngước mắt rà soi từng thanh gỗ cột, gỗ kèo, gỗ đòn dông, gỗ đòn tay, cây còn, cây mục, cây nửa còn nửa mục, Xanh say sưa để những viên ngói âm dương bám lớp lớp rêu nhung xanh mịn in bóng, đọng lâu trong mắt mình. Xanh lại liếc ngang liếc dọc những đống gạch mới, cát, đá mới chồng đống, ngất nghểu. Đầu óc Xanh chợt nặng như bị đổ chì, bị trúng độc bởi cái mùi hăng hăng, rít rắm của xi măng, sơn nước, ngói đúc Mỹ, ngói men Tàu. Xanh chợt nuối tiếc cái mùi mốc meo, lưu cữu, mục nát, tiếc dẫu biết đã mục, mục từ viên đá nền mục tới tường vách, mục từ cuống móng mục lên trần nhà, mái nhà. Người đi khẽ nói nhẹ thấp giọng bảo: Tã. Người ăn sóng nói gió quen miệng suồng sã: Rã mẹ nó rồi. Tã. Rã. Tã rã. Tã rã nhưng thân thuộc… Xanh nghĩ đơn giản là chiếc áo của mình tới hồi mục vải. Mục. Thâm. Khoắm. Vá víu không dính. Sửa cũng như vá đòi hỏi thợ hồ phải dày dạn kinh nghiệm, linh hoạt chế đắp, đóng móc sắt, đóng đĩa thép, trét hồ dầu cho gọn, cho khéo trước khi tô lại, không khéo thì dính trước rã sau, bám trước tã sau. Xanh cho đổ bê tông kềm vào ba cây cột chịu lực lớn, xây bọc vòng ngoài bốn bức tường dày hai mươi phân bao quanh ngôi nhà năm gian. Vẫn chưa yên tâm vì nguyên gian giữa tã nhất nhưng phải giữ nguyên hiện trạng, mọi thứ bên trong gian giữa đều dính móc vào nhau, bệ thờ, bàn thờ, khung, phướn, hoành phi đắp nổi, bệ đỡ đòn dông, nơi treo gạo muối, nơi dương cung yểm tà… Không ai được đụng tới. Xanh tin, cha Xanh tin, ông Xanh tin: Nếu đụng tới, đổi lệch chỗ những vật dụng ấy mà không được sự cho phép của tổ tiên, các đấng khuất mặt khuất mày sẽ gây ra tai họa, thậm chí là mất mạng. Nghĩ tới gian giữa ấy thôi là Xanh đã bị nỗi sợ hãi chiếm lĩnh cả người huống chi là động tay động chân động búa động bay. Xanh bắt đầu bị lộn tùng phèo trong những suy nghĩ, tính toán, đoán định, giữa những cũ mới, chắp vá, đổi thay, đập phá, tô trét, xấu che, tốt khoe, giữa những tương đồng, tương khắc, giữa những chống đỡ, an toàn, tai họa… Giữa ngôi từ đường. Giữa cơn bốc mùi hư cũ âm lạnh bão hòa. Xanh, kẻ tự tin mình là người có lý tưởng, người biết trên dưới phân minh đang ở giữa, ở trung tâm, ở vai trò quyết định mọi thứ mà cứ như một kẻ bị động, bị xỏ mũi dắt đi bởi một tay chơi khăm thứ thiệt nào đó. Đục bỏ. Đập bỏ. Đó là quyết định đau rát. Thạch cao trên trần nhà của cả bốn gian tả hữu đã nhũn, ngày nào cũng rắc những lớp bụi vàng nâu như cứt mọt khắp nơi. Trần nhà này có từ đời ông nội, chắc để che những hàng đòn tay cũ kỹ và những hàng ngói âm dương rêu phủ bên trên. Xanh cố xua khỏi đầu hình ảnh ông nội vừa hiện về với ánh mắt gia trưởng sáng quắc, nghiêm khắc. Đập bỏ trần nhà! Xanh đột ngột phảy tay, lệnh vỡ: Đập! Bục. Bục. Ầm! Một tấm trần rơi xuống. Ầm. Ầm. Hai tấm trần rơi xuống. Ầm. Ầm. Ầm… Bụi mù mịt. Nhóm thợ vào việc định đập nhỏ, định kéo ra ngoài, chợt dạt mạnh, rối loạn, huyên náo. Xanh chồm vào đám bụi, mắt trợn tròn. Cả mảng tường lớn tam giác, cả mái nhà hình chữ A lúc nhúc không biết cơ man nào là gián, mùi hôi bốc ra nồng nặc, hàng ngàn cánh nâu xập xòe, hàng ngàn bộ râu khẽ động như giàn ăng ten trùng điệp chợt ẩn chợt hiện của một khu quân sự khổng lồ đang rùng rùng khởi động chiến tranh. Xè xè. Xè xè. Xè xè… Tiếng đập cánh đột ngột rộ lên. Thợ hồ bị gián bu đầy mặt cầm búa quơ quơ, nhiều người quá lúng túng, quá bấn loạn quơ đập cả búa vào mặt mình, máu mũi chảy ròng ròng, tèm lem như bị chứng máu cam. Chứng chảy máu cam tập thể. Chứng bấn loạn tập thể. Chứng kích động tập thể. Gián chui vào cổ áo, vào cánh tay, vào khăn bịt mặt, vào ống quần, vào bất cứ chỗ nào có thể chui được. Thợ hồ đồng loạt bỏ búa, chạy. Xanh chụp cây chổi đập, đập, đập, đập bên phải, đập bên trái, đập vào cả tay chân mình, mặt mũi mình. Gián bu vào Xanh. Mùi gián xộc vào mũi, vào miệng, vào phổi. Áo quần của Xanh đầy gián. Tay chân của Xanh đầy gián. Mặt mũi của Xanh đầy gián. Xanh bỏ chổi, chạy. Chạy như ma đuổi. Cả cơ thể thành khối nâu nâu đen đen với hàng ngàn đôi cánh xập xòe, Xanh co rút, phình to theo nhịp cánh gián chuyển động, Xanh co rút, phình to theo nhịp ngúc ngoắc của hàng ngàn chiếc râu tua tủa, Xanh co rút, phình to không còn hình người, Xanh biến thành cái tổ gián liên tục co rút, phình to. Người gián và người Xanh nhập nhòe. Xanh chạy đến đâu mang theo cái mùi mốc meo, lưu cữu, rã mục, hăng khoắm đến đó. Xanh gục xuống, ói, ừm ờ, ọc, ọe… Cố nén nhưng ruột gan cứ cào lên, cuộn lên. Ọc. Xanh ói đến mật vàng mật xanh, ọc, ọc, ói, ói, ọe ọe cho bằng hết những gì đã nuốt vào người, ói cho bằng hết những nhớt đờm vàng nâu đen đỏ. Ọc. Xanh ngạc nhiên thấy mình ói ra gián, gián nguyên con, gián bẹp nhẹp, gián nát bét, râu gián, cánh gián, những khoanh nâu nâu cưng cứng của bụng gián… Miệng Xanh đắng ngắt. Miệng Xanh tanh lợm. Miệng Xanh nhớp nháp những gián và nước bọt và những nhũn dai đắng chua lợn cợn khác… Xanh lết được tới cạnh bờ ao, lăn người, quật người, rút người. Ùm. Ai đó từ Xanh thoát ra, vừa ùm xuống nước, hình như là con người thứ hai. Gián bay theo rào rào. Mặt ao rợp nâu. Người thứ hai ngụp lặn, ngụp lặn, ngụp lặn. Xanh co rúm trên bờ ao, chỉ biết nhìn ai đó đang nhỏ dần, mòn dần, tan biến dần vì gián. Xanh không cử động được nhưng thấy rõ ràng có người nào đó bên trong mình vừa thoát ra. Chiếc tổ gián hình người biến thành đám mây nâu đen vần vũ mặt ao. Cuối cùng những âm thanh xè xè phát ra từ đám mây cũng im tiếng, những đám mây tanh khoắm ấy cũng biến mất nhưng không ai biết được bao giờ thì Xanh thôi những cơn ác mộng gián, bao giờ thì Xanh thôi ám ảnh những đôi cánh nâu, ám ảnh những cơn ọc ói ra mật vàng mật xanh ấy. Xanh tức và giận mình là sao có thể ở chung với cái tổ gián khổng lồ kia ngần ấy năm mà không nghe, không thấy, không biết gì. Đúng là ai đó đã chiếm lĩnh cuộc sống của mình. Xanh tức và giận mình là tại sao mỗi năm chỉ biết tô trét sơn phết cho cái trần nhà sáng sủa bên ngoài mà không biết gì về loài vật nâu đen hăng khoắm đã sinh sản con đàn cháu đống bên trong!? Xanh không hề biết có một vương quốc hôi khoắm, tanh lợm trong ngôi từ đường của mình. Đúng là ai đó đã tồn tại bên trong mình, chiếm lĩnh mình, ngửi nghe, động tay động chân thay mình. Từng ấy năm mình không có cuộc sống thật sự ư? Nhận thức ấy làm Xanh đau đớn vô cùng. Sau cơn mưa trời lại… mưa. Phóng lao theo lao. Đã bắt đầu sửa thì phải tiếp tục sửa. Khoảnh khắc dù ghê sợ, đớn đau đến mấy rồi cũng qua đi, cuộc đời là những khoảnh khắc, những khoảnh khắc tiếp nối. Cơn say máu bốc lên sau sự cố gián, Xanh ra lệnh đập luôn cả góc nhà kho, cả nền nhà lót gạch xỉn màu huyết dụ, mòn khuyết từng lõm, dộp bọng bồm bộp bên dưới, nơi mà Xanh mỗi lần đi vào cứ rờn rợn cảm giác bị biến mất, bị rơi xuống cái hố không đáy, cái giếng tắt nước, không sử dụng được nữa, đã bị đậy lại và phủ lên đó lớp nền vữa vôi, nền xi măng, nền gạch. Khi mảng bê tông đầu tiên sụp xuống, Xanh rùng mình vì nỗi lo sợ của mình là có thật. Thả cục gạch xuống nghe một tiếng coong dội lên. Có thể là giếng có đáy. Xanh mừng thầm, dù sao cũng có đáy. Thợ hồ tiếp tục nện những mũi xà beng nặng tay theo đường cong tròn, họ có cách làm của họ, Xanh tin tưởng họ. Xanh lui ra đứng nhìn vòng quanh đống đổ nát, châm điếu thuốc. Đầu điếu thuốc vừa lóe đỏ chợt rơi xuống đất. Sự im lặng đột ngột giữa một nơi đang ầm ầm bục bục như ở đây làm Xanh sợ. Linh tính tới những gì ghê gớm nhất, còn hơn cả cơn ám ảnh gián vừa hiện ra, vừa xảy ra làm Xanh lạnh xương sống. Có thể cái vòm đen đầy gián trên mái nhà chỉ là cái bóng, chỉ là cái bóng đối xứng với lỗ giếng đen ngòm thực đến mức ghê người dưới nền nhà này mà thôi. Hàng ngàn điểm sáng trắng bén nhọn trong vòm tối, cái vòm tối không đáy mà có lần trong cơn mê sảng do sốt cao Xanh đã thấy mình bị rơi vào cùng những âm thanh đồng vọng. Xanh rùng mình thấy lại nó hôm nay, trong khoảnh khắc này, Xanh hiểu hình ảnh trước mắt đã được báo trước. Đám thợ hồ không dám chắc đó là gì nhưng tất cả đều sựng lại thủ thế. Chỉ Xanh là im lặng trĩu ngực, bấn loạn với những suy nghĩ bí mật riêng mình. Đầu Xanh nóng ran, lại xoay vòng trên cổ, lại lắc qua lắc lại giần giật trên cổ, Xanh như đang thấy trước mắt mình những vết nứt rạn lan ra từ lòng đất, những bóng dáng cổ quái ma mị đang hú hét, đang vọng gọi, đang bay, đang xoay, đang lộn nhào, đang trồi lên từ miệng cái giếng đen ngòm. Chuột! Tiếng ai đó vừa hét lên, đám thợ hồ thảng thốt thều thào không ra hơi, thều thào run rẩy. Chuột… Chuột… Chuột… Tiếng gọi tên một loài vật đã trở thành thứ ám ảnh khủng khiếp, chỉ nghe tên thôi mà cả đám thợ vai u thịt bắp sức trai sức tráng đã bủn rủn tay chân. Xanh cũng bủn rủn tay chân. Hàng ngàn điểm sáng bén nhọn đang chuyển động dâng lên. Mùi chuột đã nồng ngập, ngộp thở. Đám thợ thụt lùi, thụt lùi, mắt căng tròn, trắng dã. Cái vòm đen ngòm đang lan ra, vòng người đang giãn ra. Cái bao chuột khổng lồ đang mở ra, đang lộn trái. Những con chuột đen trũi, hai mắt sáng quắc, sáng như những điểm sáng bén nhọn, đã hiện hình mồn một, nhung nhúc, chồng đống lên nhau. Vành tròn chuột đen trũi, hàng trăm con mắt sáng quắc, sáng như những điểm sáng bén nhọn, đã hiện ra thực đến mức khó tin. Khối chuột đen trũi đã hiện quanh cái miệng giếng đen ngòm. Cả nền nhà ngập chuột. Chuột trèo lên đầu nhau mà bươn tới. Những con sóng chuột nhấp nhô, trườn trườn, gợn gợn… Đám thợ hồ trèo lên, đu người trên những bàn ghế, những cây cột, cây kèo, mắt lấm lét, mặt cắt không còn hột máu. Xanh ngạc nhiên thấy mình chẳng biết bằng sức mạnh nào mà đã treo mình được trên cây đòn dông ở gian giữa, gian thờ, gian treo gạo muối, gian cất giữ những bức thư tịch của các vị cao tằng cố tổ. Xanh chợt thấy những con sóng chuột bắt đầu xao động, nhảy múa cuồng loạn như đang trong cuộc hành lễ đầy ảo giác. Xanh chợt thấy cây đòn dông mình đang bám víu bắt đầu đong đưa. Xanh kinh hãi nhìn thấy những tay thợ hồ bò que bò càng trong những cơn sóng chuột. Chỉ còn những động tác bò càng bò que, âm thanh bặt, mất tiếng hoàn toàn, những tiếng kêu rú, thều thào đã mất hẳn. Đầu Xanh nhức buốt và bắt đầu xoay vòng. Ba khuôn mặt chỉ còn một nhưng vẫn xoay vòng. Phải thôi! Xanh chợt thốt lên một cách vô thức, bâng quơ. Xanh đang tuột tay khỏi dần cây đòn dông, những ngón tay đơ dại, cơn sợ hãi biến mất. Xanh nhìn bao quát ngôi từ đường đang chao đảo lần nữa. Xanh nhìn cái giếng nhung nhúc chuột lần nữa. Xanh nhìn nền nhà đang dợn từng hồi, từng hồi những cơn sóng chuột lần nữa. Phải… thôi… Xanh lại thều thào một mình trong cơn trăn trối. Không có gì chắc chắn vĩnh viễn, đó là điều Xanh chắc chắn nhất. Gân cơ các ngón tay mất dần cảm giác và Xanh nhắm mắt rơi như hòn sỏi vô tri. Bục. *** Lịch tỉnh lại, anh vẫn nhớ mọi chuyện như in hằn từ lâu lắm trong đầu mình. Những câu chuyện của ông Xanh với kiểu nói, kiểu kể lên đồng liên thanh không dứt làm Lịch thiếp đi lúc nào không hay, kiểu như một cái chết do bão hòa, do đầy, do phồng, do phân mảnh, do lưỡi ngã qua một bên bất động, do tai ù ù, ong ong, rít rít rồi không nghe gì nữa, âm thanh xung quanh còn chết, không gian xung quanh còn đơ cứng thì người không thiếp đi mê man mới lạ! Theo Lịch được biết có nhiều người đã mất kiểm soát, đã hoá điên vì nghe nói nhiều quá hay nghe một loại âm thanh thần chú ma quái gì đó vang mãi bên tai. Lịch loay hoay chăm sóc vợ trên giường bệnh cạnh giường ông Xanh, nhờ chăm sóc vợ mà Lịch còn biết cuộc sống vẫn còn đâu đó sự sống, vẫn còn đâu đó thiện tính, vẫn còn đâu đó những nơi không bao giờ vang lên cái tiếng “bục” ghê rợn. Ngay trước cái đêm ông Xanh vĩnh viễn đi xa, ông đưa tay khều khều Lịch và nói: “Để kể nghe chuyện này!”, đó là câu chuyện cuối cùng. …Buổi trưa trên đồi Gió năm xưa chợt hiện về dù Xanh cố xua nó đi khỏi đầu óc tâm trí mấy chục năm qua, tưởng có một đồi Gió khác được dệt nên bằng những con chữ thay thế nó, đè lên nó làm nó đã chết đi nhưng giờ nó ngoi lên trở lại. Mà cũng lạ thật có những điều hôm qua Xanh còn cho là nó quan trọng, là ý nghĩa cuộc sống của mình, niềm tự hào của mình, những điều Xanh bảo vệ nó tới cùng  bằng mọi giá nhưng giờ đây nó đã trở nên vô nghĩa, chẳng là gì cả. Vì thế mà Xanh quyết định kể ra sự thật, không thể không kể, không thể giữ kín được nữa rồi, trước cửa tử mọi chuyện đều trở nên nhẹ như lông hồng. … Xanh đang vác súng đi luồn gần con đường mòn được các đồng chí của mình gọi là con đường Sao Ba Chín Chiều, một cách ghép hình ảnh ngộ nghĩnh vì ở đó có một cây sao lớn có ba chạc đưa tán ra phủ kín một vùng, trong chín hướng đi tỏa ra khắp khu rừng ấy có một hướng chính là cửa ngõ đi vào căn cứ kháng chiến, là chỗ dựa vững chắc, kín đáo của các cơ quan kháng chiến cấp tỉnh, là điểm dừng chân quan trọng trên con đường vận chuyển vũ khí, lương thực nối liền từ tỉnh đến Trung ương Cục. Đoạn đường này thường bị máy bay địch bắn phá ác liệt, nhiều du kích hàng chú bác của Xanh đã bị bắn chết ở đây, có một đội dân công nghỉ chân ở đây đã bị bom vùi xác không chừa người nào. Đó là điểm chết chóc đáng sợ. Đang đi chợt Xanh nghe tiếng phành phạch trên trời rồi tiếng lá cây rừng lao xao rất gần, Xanh hoảng quá chạy thục mạng khỏi cái nơi nơi gọi là Sao Ba Chín Chiều đó, Xanh lách cây rừng leo lên đồi Gió, dù sao thì trên đồi cũng không phải là điểm trút bom đạn của địch, nơi trống địch thường ít để ý đến. Đang lúng túng, loay hoay tìm chỗ nấp thì trước mắt Xanh hiện một cái lỗ lớn do ai đó đào hang dông, hang rắn hay củ khoai rừng gì đó, Xanh ôm súng nhảy vội xuống, vơ lá chung quanh phủ kín lên người. Tiếng phành phạch mỗi lúc một gần, nhịp tim Xanh đập thình thịch trong lồng ngực. Xanh nghiêng nghiêng đầu đưa mắt lên nhìn, mấy ngọn cây bên trên quìn quịt từng cơn như có ai đang nắm kéo xuống, giật xuống, lá bay rào rào vần vũ trên đầu, tiếng phành phạch chát chúa ngay trên đầu. Cơn sợ hãi làm cho Xanh đái cả ra quần. Nếu lớp lá bị tốc ra hết, Xanh bị lòi ra thì chỉ có chết. Tiếng phành phạch bay qua, Xanh thở phào nhẹ nhõm nhưng chưa kịp hoàn hồn thì cái âm thanh ghê rợn ấy bất ngờ quay trở lại. Chiếc máy bay tàu gáo rà xuống thật thấp, từng luồng gió mạnh quét xoèn xoẹt xuống đất đá, lá bên trên, lá trong lỗ đều bay sạch không còn một chiếc. Xanh lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật. Toàn thân Xanh run lập cập, đáy quần ướt sũng, tay chân run bắn lên. Bấn loạn. Sợ hãi. Xanh chờ đợi tiếng róc- két vang lên. Chiếc máy bay đã phát hiện ra Xanh, nó rà xuống chuẩn bị ném lưới chụp bắt sống. Vùng dậy chạy cũng chết mà ngồi yên cũng chết, Xanh nghe được cả tiếng bọn Mỹ hô hét trên máy bay, hồn phách đang thất tán thì tay Xanh tự nhiên xiết vào cò súng, một loạt âm thanh chát chúa  vang lên, một loạt nữa, rồi một loạt nữa. Chiếc máy bay như một con quái vật khổng lồ đã trúng đạn vào chỗ hiểm bốc cháy và lao xuống triền đồi. Một tiếng nổ vang động rừng núi cùng lúc với ngọn lửa bùng mạnh làm cháy rạt cả một vạt cây cỏ rộng đến trăm bước chân… Kể xong, nghe xong, cả hai cùng im lặng một quãng dài. Ông Xanh thở ra thườn thượt và ném cái nhìn vô hồn lên trần. Lịch nhớ lại những trang sử do mình viết lòng ê chề nhục nhã. Ba ngày đi ngang qua phòng đối diện Lịch quyết không nhìn vào. Ngoài thời gian đi mua thức ăn, nước uống, lau rửa, đổ bô cho vợ, Lịch bắt đầu quay lại được với công việc cả đời của mình. Những đêm hôm khuya khoắt, cả phòng bệnh nằm im sau một ngày đau đớn, mỏi mệt thì Lịch cũng nằm im suy nghĩ.  Ngoài việc nhận hợp đồng viết sử, Lịch còn là một nhà thơ tên tuổi trên thi đàn cả nước, anh đang suy ngẫm, phân tích về các quy luật của nhịp điệu, trong đó sự tác động của mật ngữ làm cho anh phải động não đến mức tóc bạc lốm đốm từng chòm. Lịch mơ hồ biết mình đã gần chạm được cách tác động của những âm thanh dạng thần chú, khi ta mở khẩu để phát ra một âm thanh hay nhiều âm thanh theo một cấu trúc nào đó như kiểu Phạn thơ đồ được đọc theo chiều quay kim đồng hồ thì đồng thời một phản lực cũng được tạo ra tác động ngược vào một phần hoặc toàn bộ cơ thể, tâm hồn, tâm linh, tạo sự chấn động và thay đổi. Gần sáng, khi Lịch đang chìm sâu trong dòng suy nghĩ miên man của mình thì những ngôn ngữ mà con người dùng để nói với gián và chuột trong câu chuyện quỷ quái của ông Xanh lại vang lên, rền lên, nối liền vào nhau, những âm thanh ở một tầng sóng bất bình thường cứ kéo dài ra mãi. Và cuối cùng là những tiếng u u, rít rít làm dựng hết lông trên người, làm buốt hết xương quai hàm, xương sọ, xương sống, xương cẳng tay, cẳng chân. Hai tay Lịch vội đưa lên bịt tai, hai ngón tay thọc ấn vào muốn đến tận màng nhĩ, một tiếng “bục” vừa vỡ ra rền rền, lan nhanh với tầng âm thanh hạ âm. Và lá, những chiếc lá vàng khô ảo mờ chẳng biết từ đâu ra bay vần vũ trên đầu như một đám mây lớn, từng luồng, từng luồng lá đập rát vào người Lịch rồi tiếp tục bay vòng vút lên, lại ào xuống trở lại đập vào mắt, vào mũi, vào tai… Lịch quơ tay hoảng loạn nhưng không nắm được gì cả. Có một trật tự bị che giấu, Lịch chỉ kịp loáng thoáng nghĩ như vậy bằng cái đầu tê buốt của mình rồi một tiếng “bục” tiếp theo rền mạnh đã làm Lịch trở thành cái xác không hồn. Người viết sử đã qua đời. Lần đầu tiên ở bệnh viện này có hiện tượng người nuôi bệnh lại qua đời trước bệnh nhân, phải đến ngày hôm sau ngực vợ Lịch mới thôi phập phồng. Trong không gian lúc bấy giờ chỉ còn những tiếng “bục” nối tiếp theo một thứ nhịp điệu câu chữ rất kêu của những trang sử làng: Bục. Bục. Bục… Bục, bục, bục… Bục. NGUYỄN HIỆPTheo vanhocsaigon

Góc Nhìn Tác Phẩm

Góc nhìn văn hóa trong truyện ngắn ‘Không ai qua sông’ của Nguyễn Ngọc Tư

Góc nhìn văn hóa trong truyện ngắn ‘Không ai qua sông’ của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đa tài của văn học Việt Nam đương đại nói chung và văn chương Nam Bộ nói riêng. Các sáng tác của chị trải dài từ tản văn, ký, truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả thơ. Với một lối viết tự nhiên, ngôn ngữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư vừa giản dị, vừa phá cách bằng một nét phối trộn ngôn từ rất riêng. Với tập truyện ngắn Không ai qua sông xuất bản năm 2016, chị đã vẽ lên cho người đọc không chỉ một xóm Nhơn Thành với đầy đủ loại người mà còn thấy đâu đó một Nam Bộ thu nhỏ. Tập truyện ngắn Không ai qua sông của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư thường kể lại những nỗi u hoài trầm lặng, sự nhẫn nại chịu đựng cam phận trong tâm hồn người dân quê miền Nam, mà đời sống gắn bó với con kinh, con rạch. Giọng văn và tinh thần sông nước của chị như một truyền thống nối dài từ Bình Nguyên Lộc, người đã gắn liền hai yếu tố đất và nước, thành ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ đất nước. Tư tưởng này, truyền qua Sơn Nam, đến Nguyễn Ngọc Tư, là thế hệ thứ ba, tuy đã bớt đậm đặc đi, nhưng vẫn đem lại cho người đọc, nhất là người đọc khác miền, những cảm xúc mới. Không ai qua sông – Tập truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư gợi bạn đọc nhớ đến truyện dài Cánh đồng bất tận đã từng gây xôn xao trên văn đàn một thời gian dài. Cũng lấy cảm hứng từ cuộc sống của người dân nông thôn miền Tây, nhưng giờ đây nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư có cái trăn trở của một vùng đất đã dần bị đô thị hóa, con người phải thích ứng với những thay đổi của cuộc sống hiện đại nhưng mối quan hệ trong gia đình cũng dần bị mất đi, chuyển biến theo chiều hướng khác nhau. Tôi lựa chọn Không ai qua sông – truyện ngắn tiêu biểu nhất trong tập truyện này của Nguyễn Ngọc Tư để làm rõ hơn chất văn hóa Nam Bộ đậm đặc trong tác phẩm – yếu tố tạo nên nét riêng không trộn lẫn của Nguyễn Ngọc Tư giữa những cây bút trẻ của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhắc đến Nguyễn Ngọc Tư, ta sẽ nghĩ ngay đến những truyện ngắn với bối cảnh miền Tây sông nước. Bạn đọc đã “cố định” chị trong không gian của một cánh đồng, một dòng sông mà không cho đi đâu cả. Nguyễn Ngọc Tư nào có đi đâu! Chị vẫy vùng trong không gian sông nước ấy và đem đến một cách nhìn hoàn toàn mới mẻ vào trang văn của chị. Trong Không ai qua sông, ngay từ nhan đề đã hiện lên một dòng sông – có thể là dòng sông hiện thực, có thể là dòng sông tâm tưởng mà tác giả gợi ra để nói về những định kiến, những khó khăn trong cuộc đời mà những nhân vật trong truyện như Út Lẹ, Thiếp, Trầm… không thể vượt qua. Nỗi ám ảnh và trăn trở ấy đã theo người đọc từ nhan đề vào trong tác phẩm. Nếu đọc Nhớ sông, Nước chảy mây trôi hay Qua cầu nhớ người… ta có thể cảm nhận được sự hùng vĩ, rộng lớn đến ngợp thở của những dòng sông Nam Bộ, thì điều kì lạ trong Không ai qua sông, dòng sông hiện lên qua rất ít chi tiết, mở đầu tác phẩm là cây cầu Mù U – mặc định của việc sử dụng hình ảnh cầu là cầu sẽ bắc qua sông. Đến giữa truyện, dòng sông cũng chỉ hiện lên trong 1 góc nhỏ “Ra khỏi dãy chợ mé sông, gió bỏ ngọn thổi tạt mấy biểu ngữ làm đoàn người chao lắc” và kết thúc truyện, dòng sống hiện lên mờ nhạt qua câu chuyện về quá khứ của một người phụ nữ không tên. Nhưng người đọc luôn có cảm giác dòng sông là nhân chứng của tất cả số phận và cuộc đời của những người phụ nữ xóm Mù U. Sông cứ chảy lặng lẽ, đi bên đời và thầm lặng sẻ chia với những người phụ nữ nơi đây tất cả những nỗi đau đớn, bất hạnh và cả bất lực về cuộc đời của họ. Trong đám tuần hành cầm biểu ngữ đi vòng quanh xóm Mù U qua lời kể và sự quan sát của Thiếp, người đọc cứ có cảm giác còn có đôi mắt của dòng sông dõi theo và quan sát toàn cảnh, thỉnh thoảng lại đánh động vào đoàn người rệu rã một vài trận gió lớn khi đi qua mé sông. Thế mới thấy văn hóa sông nước miền Tây đã ăn sâu vào tiềm thức của những con người nơi đây sâu sắc thế nào, để cho họ cảm nhận dòng sông không còn là thực thể của thiên nhiên mà đã trở thành người thân, một phần máu thịt đối với họ. Văn hóa của Nam Bộ còn được thể hiện qua cách đặt tên những địa danh như xứ Mù U, doi Me Đất – những cái tên đã trở nên thân thuộc đối với những người dân Nam Bộ, vừa gợi được sự giản dị, dân dã, vừa gợi ra những vùng đất xa ngái, hoang sơ, là nét đặc trưng không thể nhầm lẫn với những vùng miền khác. Những thân phận con người, những nẻo đường thôn quê của miền sông nước Nam Bộ trong Không ai qua sông cũng là một trong những biểu hiện đặc trưng của văn hóa Nam Bộ. Truyện ngắn chỉ như một lát cắt phác lược vài nét khái quát về cuộc đời của chị Thiếp, của Trầm nhưng đã thể hiện được những nỗi khốn khổ trong cuộc đời của những người phụ nữ miền Tây Nam Bộ. Với Thiếp, chỉ vì lỡ lầm trong quá khứ “bỏ nhà, bỏ chồng con, trốn đi theo anh lơ xe, không đem theo món gì”. Đến khi trở về đứa con đã không nhận ra chị và chị cũng không thể xưng mình là mẹ nó. Còn Trầm thì khốn khổ hơn, chị đang cấn bầu đứa con thứ ba và cả ba đứa con ấy đều là những đứa trẻ không cha. Không chỉ chị mà những đứa con của chị đều phải chịu những ánh mắt dè bỉu, coi thường của người dân xóm Mù U. Nhưng đông đảo hơn cả là 50 chị em phụ nữ tham gia cuộc biểu tình chống nạn bạo hành gia đình – một vấn nạn đã và đang tồn tại trong xã hội Việt Nam, nhất là ở các tỉnh miền Tây. Câu nói vô tình của một bà thím ngồi chơi tứ sắc: “Mắc cười, bộ biểu tình thì không bị đánh nữa sao?” có lẽ sẽ cứa sâu vào lòng người đọc chúng ta. Sự vô tình của bà con xứ Mù U với thân phận của Trầm, nỗi đau không thể tỏ bày của Thiếp hay sự thờ ơ của những người phụ nữ có thể là nạn nhân của bạo hành trước cuộc biểu tình nhằm chống lại điều đó phải chăng không phải là bản chất? Họ chính là nạn nhân của sự thất học, thiếu hiểu biết, sự cam chịu, nhẫn nhịn suốt bao đời nay, đồng thời cũng là nạn nhân của tư tưởng trọng nam khinh nữ tồn tại trong xã hội Việt Nam. Những hoạt động tuyên truyền của Hội phụ nữ đến từng nhà thuyết phục cũng chỉ gom được chừng năm chục chị để rồi đoàn người diễu hành đã tan rã nhanh chóng dù chưa đi hết một vòng xóm Mù U. Văn hóa sống ngại va chạm, ngại đấu tranh, cam chịu, nhẫn nhục dường như đã ăn sâu trong nếp sống, nếp nghĩ của nhiều bà con nơi đây. Để rồi những thân phận dám sống khác, nghĩ khác, làm khác như Thiếp, như Trầm đều không nhận được sự cảm thông, chia sẻ. Nguyễn Ngọc Tư kể chuyện bằng giọng điệu như dửng dưng, thờ ơ nhưng chị ngầm gửi gắm trong đó niềm cảm thông, xót xa và trân trọng những cảnh đời, cảnh người khốn khổ. Ngay cả những người phụ nữ đáng thương không dám tin vào sự đổi thay của cuộc đời cũng có một chỗ đứng ngang hàng với các nhân vật khác. Nét đẹp văn hóa trong cách sống của người phụ nữ Miền Tây bao đời nay: chịu thương chịu khó, hy sinh cho chồng con vẫn cần được phát huy, song Nguyễn Ngọc Tư còn đặt ra một vấn đề quan trọng hơn: trong cuộc sống hiện đại người phụ nữ cũng cần phải sống cho mình, phải dám đấu tranh để được hưởng hạnh phúc mình xứng đáng được hưởng. Đặc trưng của văn hóa không chỉ thể hiện trong vẻ đẹp của tín ngưỡng, phong tục tập quán, trong nếp ăn, cách ở mà còn thể hiện trong những trăn trở, suy ngẫm về những hủ tục, những cách nghĩ còn lạc hậu vẫn tồn tại trong xã hội hiện đại như: nạn tảo hôn, chửa hoang, ngoại tình…Số phận của Thiếp, của Trầm trước hết là sự lựa chọn của họ nhằm thể hiện khát khao được hưởng hạnh phúc cho chính mình. Thiếp bỏ nhà, bỏ chồng, bỏ con đi theo anh lơ xe, nếu xét trên góc độ xã hội là “tội ngoại tình” không đáng được thông cảm và tha thứ. Nhưng xét ở góc độ cá nhân, đó là sự “vượt rào” để đạt được hạnh phúc mà mình mong muốn. Xã hội chỉ chê trách người phụ nữ ngoại tình, nhưng không bao giờ tự đặt câu hỏi: “Tại sao phụ nữ lại ngoại tình?”. Phải chăng, chính người đàn ông đã không đủ năng lực đem lại hạnh phúc cho người phụ nữ ấy, khiến cô phải bỏ đi để kiếm tìm hạnh phúc khác? Vậy trong lỗi của người phụ nữ còn có thêm lỗi của người đàn ông nữa chứ? Hay như Trầm – một người phụ nữ can đảm và mạnh mẽ, dám mang bầu đến lần thứ ba để sinh ra những đứa con không cha. Mọi người đều nhìn Trầm bằng ánh mắt coi thường, khinh bỉ. Nhưng sao không ai lên tiếng tố cáo, chửi rủa những gã đàn ông hèn hạ đã “quất ngựa truy phong” để lại hậu quả cho người đàn bà gánh chịu? Tội lỗi lớn nhất mà Trầm mắc phải có lẽ là sự nhẹ dạ cả tin những người đàn ông của mình. Gánh nặng mà cô phải mang khi chăm sóc 3 đứa con không cha có lẽ là nỗi khắc khoải, đau đớn mà Nguyễn Ngọc Tư đặt ra trong tác phẩm. Đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư người đọc cần phải hiểu, cảm thông rồi mới quay ra trách, hờn, giận, thương… mà có trách giận đấy, vẫn đau đáu nỗi xót xa về những thân phận con người ở vùng sông nước mênh mông, vắng lặng và còn lạc hậu, ấu trĩ. Một trong những nét độc đáo nhất trong văn hóa Nam Bộ được thể hiện trong tất cả các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là việc sử dụng các phương ngữ địa phương đậm đặc. Nguyễn Ngọc Tư không ngại đưa những từ ngữ vùng miền vào trong các sáng tác có tính phổ biến toàn dân của mình như: “Giọng giòn rụm, kêu má, má mình đang rinh chữ không nên đánh phụ nữ bằng một cành hoa; Út Lẹ lượm mấy trái bàng khô chọi dạt đám con nít khỏi đoàn người; Điện thoại trong túi chị nào cứ nhấp nhổm đổ chuông, nghe nôn ruột…”. Cách sử dụng phương ngữ khéo léo, tinh tế, tự nhiên khiến bạn đọc ở miền Bắc hay miền Trung đọc không cảm thấy xa lạ, không chỉ hiểu rõ nghĩa mà còn vô cùng thích thú chất “ngọt lịm” trong ngôn ngữ của người phương Nam. Nguyễn Ngọc Tư chắt lọc ngôn ngữ từ cuộc sống đưa vào trong văn học một cách thản nhiên, nhẹ nhàng, không hề khiên cưỡng, điều đó không chỉ giúp quảng bá văn hóa Nam Bộ mà còn làm phong phú vốn ngôn ngữ Việt Nam. Không ai qua sông có thể chưa phải là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Ngọc Tư nhưng là một trong số những truyện ngắn gây ấn tượng với tôi về đặc trưng văn hóa Nam Bộ. Từ không gian, ngôn ngữ truyện đến văn hóa trong giao tiếp, ứng xử, sinh hoạt của con người Nam Bộ đều được đề cập đến một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. Câu chuyện khép lại nhưng lòng người đọc vẫn mở ra những trăn trở, lo âu về tình đời, kiếp người ở nơi chốn miền Tây xa xôi. Những cảm xúc ấy có khi không thể chạm được nhưng luôn hiện hữu như từng cọng vàng của bông lúa miền Tây, từng cây cầu bắc qua những dòng sông mênh mông, từng câu hò ru con ầu ơ vẳng lên trong những đêm khuya thanh vắng… Hải Dương, ngày 19/8/2020Nguyễn Thị Hồng Hạnh(Giáo viên trường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hải Dương)Theo vanchuongphuongnam.vn

Nhịp Sống Nhà Văn

Cuộc trở về của Boudarel

Cuộc trở về của Boudarel

Tết Canh Tý, nhạc sĩ Trương Tuyết Mai gọi điện, giọng nghẹn đi: “Đã 20 năm, giò lan nhà chị dù được chăm rất kỹ vẫn không chịu nở hoa. Tên loài lan này chị không còn nhớ. Vậy mà khi anh Boudarel trở về, hoa lan lại nở, chỉ độc nhất một bông hoa. Chị đặt tên là lan “Boudarel”. Nhạc sĩ Trương Tuyết Mai bên di ảnh Georges Boudarel ngày 4-2-2020 trên cầu Sông Bé, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Người đàn ông người Pháp này tôi đã từng nhìn thấy trên bàn thờ nhà chị. Giờ đây, tro cốt ông được hòa vào đất nước Việt Nam, theo di nguyện của ông. 1. “Mới đó mà đã gần 60 năm! Mối tình ấy ngỡ đã chôn vùi nhưng đã sống dậy mãnh liệt. Và giờ đây, Boudarel mãi mãi bên chị!”, chị Mai ngậm ngùi. Mối tình ấy khởi nguồn từ năm 1961, khi nhạc sĩ Trương Tuyết Mai mới 17 tuổi, rời Trường Học sinh miền Nam ở Hải Phòng, về Hà Nội luyện thi vào trường âm nhạc. Người con gái quê Phú Yên có một tuổi thơ đói khổ vì chiến tranh, loạn lạc. Cha đi lính hải quân cho Pháp, rồi theo bộ đội Cụ Hồ, mẹ chị nuôi đàn con thơ dại, dắt díu nhau đi qua những ngày đất nước loạn lạc. Bà kiệt sức, chết vì bệnh, không thể thực hiện giấc mơ đoàn tụ gia đình, theo chồng tập kết ra miền Bắc. Chị Tuyết Mai cùng người chị và 2 em thơ vượt qua những ngày gian khổ, xuống tàu ra Bắc.  Còn Boudarel lúc ấy là một người Pháp, có mặt ở Việt Nam vì sự thôi thúc của một trái tim khao khát dân chủ và tình yêu thương con người. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1947, ông xuống tàu sang Đông Dương. Ông vào chiến khu, theo Việt Minh. Khi đó, ông mới 24 tuổi, được ông Phạm Ngọc Thạch, lúc bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn đón tiếp, cử làm việc ở Cục Địch vận Việt Minh và Đài Phát thanh Nam bộ kháng chiến. Năm 1952, Boudarel được điều ra Chiến khu Việt Bắc công tác, làm việc tại Đài Tiếng nói Việt Nam và Nhà Xuất bản Ngoại văn Hà Nội.  Boudarel và Trương Tuyết Mai gặp nhau ở quán cơm Tân An, phố Hàng Bông, Hà Nội. Tiệm cơm này nấu các món đặc trưng miền Nam như canh chua cá lóc, cá kho tộ, khổ qua nhồi thịt hầm. Boudarel đã từng sống ở Nam bộ, thích ăn những món miền Nam nên ông thường lui tới tiệm cơm này. Trương Tuyết Mai nhớ những món ăn miền Nam nên khi về Hà Nội chuẩn bị thi vào trường nhạc cũng thường xuyên đi ăn ở tiệm cơm này. Nhìn thấy Trương Tuyết Mai, Boudarel xin phép được ngồi cùng bàn, khiến chị vô cùng lúng túng: “Xin lỗi, thưa ông là… Ông cần gì không ạ?”. Ông nói tiếng Việt, giải thích: “Tôi là Boudarel. Georges Boudarel. Tên Việt là Đại Đồng. Tôi không cần gì cả. Chính bộ bà ba đen, mái tóc và đôi mắt em đã khiến tôi phải đến xin phép nói chuyện. Em mặc bộ bà ba đẹp lắm!”. Cuộc trò chuyện năm đó khởi nguồn cho một mối tình. Boudarel, một ông Tây, lớn hơn Trương Tuyết Mai hàng chục tuổi, vào thời kỳ mà quen biết một người nước ngoài được xem như là điều cấm kỵ. Quá nhiều lời đe dọa và sự can thiệp thô bạo, nên gặp nhau ở quán cơm, họ phải nén lòng. Chỉ cần xếp hàng, nghe hơi thở của nhau cũng đủ làm họ hạnh phúc.  Tôi hỏi chị: “Mối tình mãnh liệt đến thế sao phải tan vỡ?”. Chị cười buồn: “Thời đó tôi còn quá trẻ. Trái tim mách bảo tình yêu không có tội. Tôi và Boudarel đã được những con đường vắng Hà Nội che chở trong những lần hẹn hò. Nhưng rồi thật tình, tinh thần tôi bắt đầu lung lay, sợ hãi. Người ta lên án mối tình tôi với “ông Tây”, nào là “mới chân ướt chân ráo về Hà Nội luyện thi đã bày đặt”, “mới tí tuổi đầu mà đã dám thách đố, cô sẽ bị ghi vô sổ bìa đen”, “có biết quan hệ với người ngoại quốc là mắc tội gì không?”... Tôi được người thầy, người anh dạy luyện thi vào trường nhạc mang chính trị, đạo đức và nhân cách làm người ra thuyết giảng. Một cô gái mới lớn, mới chập chững vào đời với niềm đam mê âm nhạc, những điều ấy quá khủng khiếp với tôi. Tôi không đủ bản lĩnh đề bảo vệ tình yêu của mình, đành lặng lẽ rời khỏi anh”.  2. Tốt nghiệp Khoa kèn Trường Âm nhạc Việt Nam khóa 1961-1965, Trương Tuyết Mai được chọn vào đội ngũ văn nghệ sĩ làm lý lịch đi vào chiến trường miền Nam. Đến cuối năm 1974, ước nguyện của chị mới được toại nguyện. Chị đã thuyết phục chồng ký giấy chấp nhận đơn tình nguyện vào Nam, đã để lại Hà Nội 2 đứa con nhỏ để lên đường, vượt Trường Sơn vào Nam. Rồi hòa bình, tiếp theo những ngày vật lộn với khó khăn, thiếu thốn, cả nỗi cô đơn khi chấp nhận ly hôn, chọn lựa làm bà mẹ đơn thân để nuôi con, nuôi niềm khát khao sáng tác. Còn Boudarel là một mảnh vỡ khác của số phận. Khi không còn được gặp cô gái tên Mai, ông rất đau khổ. Ít lâu sau ông lấy vợ, có được một bé gái xinh đẹp. Thời tuổi trẻ, vì đấu tranh dân chủ, ông đã đến với Việt Nam. Thật trớ trêu, một con người hết lòng vì Việt Nam như ông, vào thời điểm ấy, đành phải đưa vợ con rời Hà Nội. Ông và gia đình không được trở về Pháp mà phải sang một nước thứ ba định cư, vì Chính phủ Pháp đã kết án tử hình vắng mặt, do những hoạt động ở Việt Nam trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp. Ít lâu sau, vợ ông bỏ đi cùng đứa con gái còn rất nhỏ. Năm 1966, ông được lệnh ân xá. Boudarel về lại Pháp năm 1967, sau 20 năm rời đất nước, dạy ở Đại học Denis Diderot (Paris 7) cho đến ngày nghỉ hưu. Tình yêu với “người đàn ông mắt xanh” ngỡ đã chôn vùi trong ký ức bộn bề, chợt sống dậy mãnh liệt trong lòng nữ nhạc sĩ, khi vào dịp nghỉ dưỡng ở Long Hải, nhạc sĩ Thế Bảo vô tình gợi lại câu chuyện năm xưa. Đêm ấy, chị không ngủ được, bật lên từ ký ức Hà Nội với những con đường Hoàng Diệu, Trần Phú, vườn Bách Thảo... Ngày đó, họ đã nương vào bóng tối mờ ảo của ánh điện khuất dưới những tàng lá sấu, những tán cây xà cừ để đến với nhau. Những cung bậc cảm xúc của bài hát Đợi chờ đã rung lên từ đêm trăng ấy. “Đợi chờ anh, em chẳng tính từng giây, dù mỗi giây bằng hai đầu thế kỷ…”.  Chị đến nước Đức - nơi con gái chị sinh sống. Rồi từ Đức, chị cùng con gái tìm đến bệnh viện nơi Boudarel điều trị di chứng căn bệnh tim mạch. Giờ đây, chị không còn là cô gái 17 tuổi mà là người đàn bà đi qua chiến tranh và hòa bình, trải nghiệm máu thịt cuộc đời, vượt qua định kiến, sợ hãi để được là mình. “Tôi hăm hở lao vào vòng tay ấy, tìm lại hơi ấm hằng khao khát, để yên cho anh ôm và hôn lên tóc, lên mắt, lên môi. Trong vòng tay anh, tôi choáng ngợp hạnh phúc, trái tim đập rộn ràng cùng vô vàn cảm xúc dâng tràn”, chị kể. Gặp lại nhau, chị mới biết thêm những bi kịch mà Boudarel nếm trải. Ông ngậm ngùi kể: “Đầu những năm 1990, anh lại gặp nạn. Những thế lực cực hữu Pháp đã xúi giục một số tù binh Pháp ở Đông Dương vu cáo anh là cai ngục, là hung thần ờ trại giam M113 thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc. Họ đòi truy tố anh vì “tội ác chống nhân loại”, bắt anh phải trả giá cho sự dấn thân của mình. Báo chí và các cơ quan truyền thông của Pháp đã không tiếc lời bôi nhọ, lên án anh một thời gian dài”.  Nhưng Boudarel không hoàn toàn đơn độc. Một con người trung thực đến cùng và là một chiến sĩ của tự do như ông không thiếu vắng tình bạn. Bên cạnh ông đã thành hình một ủy ban ủng hộ, mà hàng đầu là 2 nhà toán học tầm cỡ, bạn chí cốt của Việt Nam - bà Hélène và ông Laurent Schwartz, giải thưởng Fields, thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Họ đã lập một ban trị sự, quy tụ đông đảo bạn bè Pháp, Việt, Mỹ, Đức bảo vệ, chăm sóc ông trong suốt 12 năm cuối đời. GS Nguyễn Ngọc Giao đã giữ tro cốt của ông suốt 17 năm (Boudarel mất ngày 26-12-2003).  Mùa xuân năm Canh Tý, ngày 4-2-2020, GS Nguyễn Ngọc Giao đã thực hiện di nguyện của Boudarel: một phần tro cốt của ông được rải xuống sông Seine; một phần đưa về Việt Nam, rải xuống Sông Bé - Chiến khu Đ, nơi ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ; và sông Hồng - nơi ông tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp với Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Trước Tết Canh Tý, GS Nguyễn Ngọc Giao gửi di cốt Boudarel ở nhà chị Trương Tuyết Mai. Tôi chứng kiến cảnh chị sáng chiều nấu những món ăn miền Nam mà Boudarel từng ưa thích, đặt trên bàn thờ ông. Di ảnh Boudarel chìm trong hương khói, bên giò lan 20 năm mới chịu nở hoa. Và có cả những giọt nước mắt của người nữ nhạc sĩ đã lập bàn thờ ông trên cây đàn dương cầm nhiều năm liền, tấu lên những âm thanh nức nở, da diết đợi chờ cả một kiếp nhân sinh. TRẦM HƯƠNGTheo SGGP Online