Giỏ hàng của bạn trống!

Tin Tức & Sự Kiện

Thời báo Văn học Nghệ thuật ra mắt bạn đọc

Thời báo Văn học Nghệ thuật ra mắt bạn đọc

Được sự đồng ý của Đoàn Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và được Bộ Thông tin và truyền thông cấp phép, kể từ thứ Năm ngày 30.7.2020, Thời báo Văn học Nghệ thuật chính thức ra mắt bạn đọc cả nước. Số đầu tiên phát hành ngày 30/7 của Thời báo Văn học Nghệ thuật Thời báo Văn học Nghệ thuật là tờ báo kế thừa truyền thống tốt đẹp của Tạp chí Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Hội Văn nghệ Việt Nam, tổ chức tiền thân của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam ngày nay, xuất bản tại chiến khu Việt Bắc năm 1948. Thời báo Văn học Nghệ thuật số đầu tiên hội tụ những bài viết sắc sảo, xúc động đến từ những cây bút tên tuổi trong làng Văn học nghệ thuật Việt Nam Với thời lượng 1 kỳ/tuần, mỗi kỳ 24 trang, Thời báo Văn học Nghệ thuật lấy việc tập hợp, đoàn kết văn nghệ sĩ cả nước, đẩy mạnh sáng tạo, tôn vinh và khích lệ mọi tài năng, tâm huyết góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là mục tiêu phấn đầu của mình. Thời báo Văn học Nghệ thuật số đầu tiên hội tụ những bài viết sắc sảo, xúc động đến từ những cây bút tên tuổi trong làng Văn học nghệ thuật Việt Nam. Là đứa con tinh thần của văn nghệ sĩ cả nước, Thời báo Văn học Nghệ thuật tình nguyện góp phần đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nuôi dưỡng phẩm chất, nhân cách, tâm hồn con người Việt Nam. Giữa một rừng thông tin tiếp diễn hàng ngày, Thời báo Văn học Nghệ thuật tình nguyện là người đọc trước, xem trước giúp các bạn tiếp cận những tác phẩm văn học nghệ thuật có chọn lọc, vừa là người đầu bếp, vừa là người thẩm định giúp bạn đọc được tiếp xúc với các giá trị mới, có sức nuôi dưỡng và gợi mở hữu ích. Ngoài phiên bản báo giấy, độc giả sẽ có trải nghiệm thú vị khi đọc các bài viết của Thời báo Văn học Nghệ thuật trên nền tảng đa phương tiện tại địa chỉ: http://www.thoibaovhnt.vn với giao diện thân thiện, dễ tiếp cận với mọi lứa tuổi. Ban Biên tập Thời báo Văn học Nghệ thuật trân trọng và mong đợi đón nhận sự cộng tác và ủng hộ nhiệt thành của các nhà văn hóa, các bậc trí giả, các văn nghệ sĩ và bạn đọc cả nước, giúp cho Thời báo Văn học Nghệ thuật trở thành một người bạn thân thiết và tin cậy của độc giả. Theo Vanchuongphuongnam.vn

Văn Hóa Văn Nghệ

Ai là tác giả bức tranh sơn dầu đầu tiên của Việt Nam?

Ai là tác giả bức tranh sơn dầu đầu tiên của Việt Nam?

Vào những năm 1970, bức tranh sơn dầu (về sau được gọi tên là Bình văn) được tìm thấy trong ngôi nhà của một người dân ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Bức tranh được cho là do Lê Văn Miến (Lê Huy Miến), họa sĩ Tây học đầu tiên người VN, vẽ nên nhưng một số phát hiện vừa qua lại dấy lên giả thiết mới. Bình văn là tác phẩm tranh sơn dầu kích cỡ 68 x 97 cm, được sáng tác khoảng năm 1898 tới 1905. Bình văn được coi là bức tranh sơn dầu đầu tiên của hội họa VN, tác phẩm hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật VN. Bức tranh Bình văn – Ảnh: T.L Đầu năm 1970, lần đầu tiên các nhà nghiên cứu mỹ thuật trong nước được tiếp cận với tranh quý. Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung – khi ấy là Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật VN – đã cùng các chuyên gia phòng nghiên cứu như Thái Hanh, Nguyễn Thiện, Nguyễn Đức Năng, Thái Bá Vân… đến xem tranh. “Toàn bộ bức tranh toát lên cuộc sống dè dặt của một thầy đồ bất đắc chí. Bức tranh vẽ dang dở, phần bên trái mới đi nét chưa phủ màu. Nhưng chính cái dang dở này đã làm sáng rõ một phương pháp sáng tác với cách dựng hình cân đối cổ điển. Vẽ màu dầu nhưng mặt tranh bóng như lụa, không gợn một vệt bút lông”, nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Hải Yến nhớ lại. Theo bà Nguyễn Hải Yến, bức Bình văn có thể được coi là bức tranh sơn dầu đầu tiên của VN. Người giữ bức tranh không đề tên tác giả này là cụ Nguyễn Đình Chữ và con trai Nguyễn Mạnh Quân (giảng viên Khoa Điêu khắc Trường CĐ Mỹ thuật công nghiệp) cùng cho biết đây là tranh do họa sĩ Lê Văn Miến vẽ. Các nhà nghiên cứu cũng nhận định bức tranh được vẽ từ cách đây hơn một thế kỷ, ứng với thời điểm họa sĩ Lê Văn Miến từ Pháp trở về VN sau khi kết thúc khóa học tại Trường Mỹ thuật Paris (École des Beaux Arts de Paris). Căn cứ vào thời gian bức tranh được vẽ, nhiều nhà nghiên cứu khi đó nhìn nhận chỉ có họa sĩ Lê Văn Miến là người tiếp nhận phong cách hội họa nước ngoài, trùng với phong cách vẽ của bức Bình văn. Bởi vậy, Bảo tàng Mỹ thuật VN đã mua lại bức tranh với giá 650 đồng và đề tên tác giả Lê Văn Miến (theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến, lương của bà lúc đó khoảng 74 đồng/tháng). Bức tranh minh họa của họa sĩ người Pháp ? Hiện có giả thiết cho rằng tác giả của bức tranh không phải là họa sĩ Lê Văn Miến. Tranh luận bắt đầu từ khi bức ảnh giống y bức tranh Bình văn xuất hiện tại cuộc triển lãm trưng bày một phần bộ sưu tập ảnh của toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1895 – 1896 là Armand Rousseau tại Thư viện Quốc gia VN (Hà Nội) vào đầu tháng 5 vừa qua. Bức ảnh này do ký giả người Anh có tên Alfred Cunningham chụp trong chuyến đi tới Hà Nội vào những năm 1900. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì người ta hoàn toàn có thể cho rằng họa sĩ Lê Văn Miến đã vẽ theo bức ảnh, giống như cách ông đã thực hiện ở nhiều tác phẩm khác. Tuy nhiên, giả thiết càng thêm cơ sở khi người ta phát hiện ra một bức tranh minh họa cũng được vẽ theo bức ảnh chụp của Alfred Cunningham nhưng do họa sĩ người Pháp thực hiện. “Đó là bức tranh minh họa trường học người An Nam của họa sĩ Pháp Albert Cézard, người chuyên minh họa cho báo chí ở Đông Dương cuối thế kỷ 19 và cùng làm ở nhà in Schneider với họa sĩ Lê Văn Miến”, họa sĩ – nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông cho biết. Bên cạnh đó, ông Thông đưa ra một số tác phẩm của Albert Cézard cũng được vẽ theo ảnh chụp. Bức ảnh được cho là “bản mẫu” của bức Bình văn – Ảnh: T.L Mặt khác, bức Bình văn có kỹ thuật vẽ hoàn toàn khác với những tác phẩm như bức chân dung cụ Lê Hy và Tú Mền đã tìm thấy của Lê Văn Miến. Cụ thể, bức Bình văn có xuất xứ rất mù mờ, bên cạnh đó kỹ thuật và phong cách vẽ bức chân dung cụ Lê Hy và chân dung cụ Tú Mền là kỹ thuật và phong cách vẽ trực tiếp, khác hẳn kỹ thuật và phong cách vẽ nhiều lớp trong bức Bình văn. Bình văn chỉ là một bức vẽ lót còn dang dở, màu dùng để chặn các mảng rất mỏng, ranh giới giữa các màu cục bộ rõ và sắc, hoàn toàn khác các mảng impasto (vẽ đặc), và các contour (đường viền) hòa vào nền trong chân dung hai cụ nói trên. Các nét can hình được gò theo đúng lỗ châm kim, về hình họa không bằng hai bức cụ Tú Mến và cụ Lê Hy. Cách giải quyết sáng tối cũng khác. “Tôi cho rằng chưa đủ cơ sở chắc chắn 100% bức Bình văn là của họa sĩ Lê Văn Miến”, nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông nhìn nhận. Cùng với việc cho rằng Bình văn được vẽ theo một tấm ảnh, họa sĩ Nguyễn Đình Đăng cũng bày tỏ rất khó để đoán định tác giả của bức tranh này. Về giả thuyết này, nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến nói: “Cần đặt bức tranh vào bối cảnh lịch sử để thấy khó có thể ai khác ngoài Lê Văn Miến đã vẽ. Bức tranh được vẽ theo phong cách cổ điển mẫu mực, cân xứng theo tỷ lệ hội họa phương Tây thế kỷ 19. Ngoài ra, gần 30 năm nay tôi thắc mắc vì sao trong tranh tấm phản nhóm học trò ngồi có màu trắng dày dặn như bê tông. Hóa ra đó là hai tấm chiếu trắng trải ngang che hết thành phản, họa sĩ đã vẽ như thực. Đó là cái tài đặc biệt của họa sĩ Lê Văn Miến mà ta có thể thấy trong nhiều tác phẩm khác”. Họa sĩ Lê Huy Tiếp, cháu của họa sĩ Lê Văn Miến, thì cho rằng: “Rõ ràng bức tranh không có chữ ký của họa sĩ Lê Văn Miến. Hiện tại chúng ta cũng chưa xác minh được hoàn toàn có phải là tranh của cụ hay không. Nhưng đến nay cũng chưa có luận cứ khoa học nào có thể bác lại lập luận của ông Thái Bá Vân và ông Nguyễn Đỗ Cung”. NGỌC AN/TNO  

Khu Vườn Sáng Tác

Trở lại chiến trường xưa… – Bút ký của Châu La Việt

Trở lại chiến trường xưa… – Bút ký của Châu La Việt

Với những xúc động của những năm xưa dội về, trong khi người lính Hoàng Dự của tôi ngồi viết bài báo về Nguyễn Thị Hồng Tươi cho những số báo đầu tiên của Thời báo VHNT, thì tôi ngồi viết một bài thơ về em, bởi ngờ ngợ cái đêm trăng năm xưa xa mờ nơi Nho Quan Ninh Bình, và cuộc gặp gỡ đầy xúc động sau 50 năm trong những cánh rừng Mã Đà thâm nghiêm này, cô gái Hồng Tươi ấy chính là em, một đồng đội năm xưa của tôi… Nhà văn Châu La Việt Cùng hành trình với Nhà văn Hoàng Dự, Tổng biên tập Thời báo Văn học nghệ thuật, ngoài tôi – Nhà văn Châu La Việt, tức hạ sỹ Lê Khánh Hoài những năm chiến tranh, còn có cựu chiến binh Bùi Phó Vĩnh, đại tá, nguyên sư đoàn phó phụ trách công tác chính trị một sư đoàn quân đội và nay là Phó Chủ tịch Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh Bình Phước. Bùi Phó Vĩnh người quê Thái Bình, những năm chiến tranh chiến đấu tại chiến trường khu Năm, đã có thời gian ngoài tay súng còn thêm tay kèn trong đoàn Quân nhạc, và sau này làm công tác chính trị, nhiều năm làm phó sư đoàn trưởng phụ trách chính trị. Bù Đốp, Bù Gia Mập (Bình phước) là chiến trường xưa của anh lính xe tăng Hoàng Dự, cũng là bến đỗ hôm nay của đại tá Bùi Phó Vĩnh, nên anh hăng hái tham gia chuyến đi này với chúng tôi. (Trong ba cựu chiến binh, rõ anh là người oách nhất với quân hàm đại tá, nghĩa là hơn chúng tôi nhiều lắm, nhưng do ít tuổi hơn, nên anh vẫn gọi chuẩn úy Dự và hạ sỹ Hoài là anh xưng em ngọt xớt. Tôi và Hoàng Dự thuộc thế hệ lính sinh viên, theo lời Tổ quốc tình nguyện lên đường đi chiến đấu, Hoàng Dự chiến trường miền Đông Nam bộ và tôi chiến trường Lào, khi hoàn thành nhiệm vụ lại trở về giảng đừờng đại học học tiếp, và mãi mãi là “những binh nhất binh nhì tuổi đôi mươi”). Bởi là thổ địa ở đây, nên bờ bụi nào, cánh rừng nào… Bùi Phó Vĩnh cũng đều thuộc như lòng bàn tay, có thể nhắm mắt dẫn Hoàng Dự đến bất cứ nơi nao năm xưa Dự từng đào hầm giấu tăng, nơi nào là nơi tăng của đơn vị Hoàng Dự xuất kích tiến về giải phóng Sài gòn. Đã tưởng “đâu đánh giặc nơi ấy là quê hương”, cánh rừng dòng suối… thuộc hơn cả ngõ quê nhà mình, nhưng giờ đây anh lính xe tăng Hoàng Dự lại cứ phải lần theo Bùi Phó Vĩnh mới tìm ra được nơi chốn năm xưa, là bởi bao năm rồi, “thế gian biến cải vũng nên đồi”, mà Vĩnh lại đã trở thành thổ công ở đây… … Tôi nhớ quãng năm 2004, nhà báo Hoàng Dự bất giác rất nổi tiếng bởi bộ tiểu thuyết Đường đời, viết về số phận chông gai của một cựu chiến binh hòa bình trở về xuôi bắc ngược nam để làm một lang y. Tiểu thuyết có tiếng vang, lập tức được đài truyền hình VN xây dựng thành bộ phim truyền hình 25 tập, phát lên sóng mê man người xem. Đồng thời nhiều anh em văn chương chữ nghĩa khuyên Hoàng Dự nên viết đơn xin vào Hội nhà văn Việt Nam đi. Nghe bùi tai, Hoàng Dự “ok” liền (nên 15 năm sau, ông Hội viên Hội nhà văn VN từng làm TBT báo Thanh niên Thời đại, rồi báo Thể thao, và hôm nay là TBT báo Văn học Nghệ thuật ). … Nhưng ngặt một nỗi muốn trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam lúc ấy, phải có ít nhất là hai tác phẩm văn học đã in, mà Hoàng Dự khi ấy mới “trần xì” chỉ có bộ tiểu thuyết Đường đời và một hai truyện ngắn còn cất trong ngăn kéo. Cũng dịp ấy tôi từ TPHCM ra HN, vốn thân thiết với anh, liền thuê ngay một căn phòng sát bên phòng tôi ở trong một khách sạn mini, “bắt” Hoàng Dự “bỏ nhà bỏ cửa” cứ tan việc về là lên ngay phòng này, liền một tuần đóng chặt cửa phòng để “cày” bằng xong thêm 7 truyện ngắn nữa, nghĩa là mỗi đêm phải viết cho xong một truyện, đủ thành một tập truyện ngắn để in gấp ở NXB Văn học.(Với BTV Anh Vũ biên tập, nay Anh Vũ là Tiến sỹ, giám đốc NXB Văn học) …Ngày ấy, Hoàng Dự cứ buông bút xong truyện ngắn nào là tôi lại nghiến ngấu đọc ngay truyện ấy. Văn của Dự bay, đẹp và có tình. Tôi bắt đầu bắt gặp những Bù Đốp, Bù Đăng, Bù Gia Mập… của Phước Long cũng từ ngày ấy qua mỗi trang văn của anh. Đây là chiến trường xưa của anh, với bao màu lá đỏ, bao mùa cao su thay lá, và tuổi trẻ lửa đạn, người sống người chết, và giờ hiển hiện thành chữ thành nghĩa trong mỗi trang văn. Anh say mê viết về những cánh rừng xưa, chiến trường xưa, những đồng đội đã không còn nữa, và những người đang sống với trách nhiệm hôm nay. Tập truyện của anh được mang tên Sống cho người đã chết, NXB Văn học in tắp lự ngay sau đó, và ít nhiều cũng gây tiếng vang, để năm sau 2005, Hoàng Dự đủ tiêu chuẩn và được đứng vào đội ngũ các Hội viên Hội nhà văn Việt Nam… … Và hôm nay, khi nhận cương vị TBT Thời báo VHNT, chuyến công du đầu tiên của anh trên cương vị mới là trở về chiến trường xưa.Tôi đồ rằng anh lại muốn có tác phẩm văn học mới viết về mảnh đất này… * Đã gặp đất, đã gặp rừng, đã gặp cao su đang mùa thay lá… nhưng còn đồng đội nữa chứ nhỉ? Vậy là Bùi Phó Vĩnh đưa chúng tôi đến với những cựu chiến binh đồng trang lứa chúng tôi hiện đã chọn mảnh đất này làm “đất lành chim đậu” của đời mình. Ngay từ những phút giao lưu đầu tiên, nhà văn Hoàng Dự của chúng ta đã gặp ngay nhân vật trong tiểu thuyết tương lai của mình – một cựu chiến binh xưa chiến đấu ở mảnh đất này, là một thương binh 4/4 đi qua cuộc chiến tranh. Đó là chị Nguyễn Thị Hồng Tươi, Chủ tịch Hội cựu chiến binh doanh nhân Bình Phước. Và cũng là đồng hương Nam Định cùng Hoàng Dự, người quê Vụ Bản và người quê Ý Yên. Bởi hơn nhau vài ba tuổi, nên chị và nhà văn của chúng ta gọi nhau là chị chị em em ngọt lịm. Chị cùng chồng mình, cựu chiến binh Phạm Công Trường đã dẫn nhà văn Hoàng Dự vào cánh rừng nơi anh chị cùng những cựu chiến binh đang canh giữ, khề khà uống rượu và kể cho nhà văn nghe những năm tháng đời lính thăng trầm của mình, cùng sự nghiệp canh giữ rừng có cả máu đã đổ mà anh chị là cánh chim đầu đàn cùng các cựu chiến binh đang tình nguyện gánh vác hôm nay. Chuyện hết sức lôi cuốn và xúc động, khiến người lính Hoàng Dự năm xưa từng chiến đấu ở đây, thầm hiểu rằng cuộc chiến đấu nơi này vẫn chưa chấm dứt để giữ cho xanh mãi những cánh rừng, và nhà văn Hoàng Dự – tác giả của tiểu thuyết Đường đời ngộ ra rằng còn một cuốn tiểu thuyết mới của anh cũng đang sắp bắt đầu, và nhân vật chính chẳng là ai khác mà là chính đôi vợ chồng người cựu chiến binh này… Với riêng tôi, thú thật đêm ấy tôi cũng không ngủ được. Dù chỉ là kẻ tháp tùng nhà văn Hoàng Dự, ”ăn theo nói leo”, nhưng qua những câu chuyện của chị Chủ tịch cựu chiến binh doanh nhân Bình Phước, tôi đã ngờ ngợ nhận ra chị là người cùng sư đoàn với tôi năm xưa. (Và chị cũng đã xác nhận với tôi điều này, cũng khẳng khái cho tôi hay, buổi đầu nhập ngũ, chị cũng là lính sư đoàn 320 B Quân khu hữu ngạn, nghĩa là quân ông Tô Ký mấy tháng giời “ăn no vác nặng”, tập bắn súng ném lựu đạn… để rèn luyện chuẩn bị vào chiến trường chiến đấu) Năm 1969, tôi lên đường nhập ngũ và được phiên chế vào sư đoàn 320 B đóng ở Nho Quan – Gia viễn Ninh Bình để ăn tập, chuẩn bị lên đường vượt Trường sơn ”Đá mòn mà đôi gót không mòn”. Có một đêm trăng, đại đội chúng tôi bao gồm những thằng lính Hà nội được  giao lưu với một đại đội bao gồm các cô gái tuổi 17, 18 Hà Nam, Nam Định cũng mới lên đương nhập ngũ và được đưa về sư đoàn huấn luyện. Sân kho hợp tác đêm ấy trăng vàng mênh mông, bên trai bên gái cùng sắc màu áo lính hát hò ầm ĩ. Ngồi bên tôi là một em xinh lắm, mắt sáng ngời ngời và nụ cười rất tươi. Thằng Quang Văn qua mặt tôi sấn tới làm quen:” Em tên là gì? Quê em ở đâu. Em xinh quá”. Cô gái bẽn lẽn đáp quê ở Nam Định, cũng mới nhập ngũ cùng bạn bè, và tên là Hồng Tươi”. Thằng Văn này rõ là vô duyên, nghe thế thốt lên giọng đặc lính Hà nội: ”Sao em tham thế, đã Hồng lại còn Tươi. Tranh hết phần tươi đẹp của các chị em rồi”. Lũ lính tráng ngồi bên cùng phá lên cười, làm cô gái Hồng Tươi mặt đỏ lên vì ngượng. Nhưng may thay thằng Văn vớt vát được: ”Nhưng bố mẹ em đúng là đặt tên em rất chuẩn. Cho anh có ngày chiến thắng về thăm bố mẹ em nhé. Em đúng là vừa hồng vừa tươi”. Đáng tiếc rằng sau đêm trăng giao lưu ấy, chúng tôi đã không có dịp gặp lại Hồng Tươi và các cô gái này. Bởi chiến trường kêu gọi, chỉ ít ngày sau chúng tôi lên đường bổ sung cho chiến trường Lào trong binh chủng cao xạ pháo – Thay vì là lính bộ binh Mặt trận Tây nguyên như dự định (Thằng Văn sau này hy sinh ở chiến trường Lào, đỉnh đèo Phu nok cok). Còn nghe nói Hồng Tươi và các bạn của em cũng lên đường vượt Trường Sơn một thời gian ngắn sau, trong một binh chủng rất đặc biệt của quân đội. Vâng, và trong đêm ấy, với những xúc động của những năm xưa dội về, trong khi người lính Hoàng Dự của tôi ngồi viết bài báo về Nguyễn Thị Hồng Tươi cho những số báo đầu tiên của Thời báo VHNT, thì tôi ngồi viết một bài thơ về em, bởi ngờ ngợ cái đêm trăng năm xưa xa mờ nơi Nho Quan Ninh Bình, và cuộc gặp gỡ đầy xúc động sau 50 năm trong những cánh rừng Mã Đà thâm nghiêm này, cô gái Hồng Tươi ấy chính là em, một đồng đội năm xưa của tôi… Bài thơ rằng: Người lính năm xưa cùng sư đoàn    Tặng đồng đội Nguyễn Thị Hồng Tươi Em người lính năm xưa cùng sư đoàn    Một chiều Nho Quan cùng đứng trong đội ngũ  Mái tóc ngang vai   em như bông hoa rực rỡ  Cô gái Thành Nam đi vào cuộc chiến tranh.  --- Em người lính năm xưa cùng sư đoàn   Những tháng năm đi vào nơi lửa đạn Người nhỏ nhắn mà xiết bao dũng cảm   Đồng đội thương em khi đạn bắn vào người   --- Chiến tranh đi qua đã bao tháng năm rồi Mà vết thương trong mình còn nhức nhối Có tình yêu của một người đồng đội Cùng chiến trường về sưởi ấm cuộc đời em   --- Năm tháng trôi qua anh vẫn đi tìm  Cô gái thành Nam năm xưa đi cứu nước Cô gái thành Nam cùng sư đoàn thuở trước Em về đâu, yên ấm mái nhà nào?  -- Bất ngờ làm sao, kỳ diệu làm sao Rừng chiến khu D hôm nay anh bỗng gặp Em vẫn như xưa dù thời gian ngả màu trên mái tóc Áo lính bạc màu lấp lánh tấm huân chương…  --- Năm xưa em đôi chân vượt Trường sơn Năm nay em lặn lội đi giữ rừng Ôi “biển bạc rừng vàng” của đất nước Cây di sản vút cao giữa tầng không…  --- Chim hãy hót vang hơn suối hãy chảy mạnh hơn Hát về em người lính năm xưa bông hoa màu quân phục Hôm nay đi giữ rừng cho đất nước Rừng chiến khu Đ Bình Phước mãi màu xanh    --- Trên ngọn lá kia những hạt sương long lanh Vẫn đọng bóng hình em xanh màu áo lính Như tuổi 19 em đi ra trận Bởi hôm nay em là cựu chiến binh Bởi hôm nay em vẫn cùng sư đoàn của anh  ---  Tân Hòa Đồng Phú những cánh rừng tươi xanh  Chiến khu Đ rừng của bao huyền thoại Có đồng đội của tôi đang chiến đấu giữ rừng Và ươm lên màu hy vọng sáng bừng… (C.L.V) 

Góc Nhìn Tác Phẩm

Lần dò theo bước chân thi ca Nguyễn Ngọc Hạnh

Lần dò theo bước chân thi ca Nguyễn Ngọc Hạnh

Cách đây ba năm, lần đầu Nguyễn Ngọc Hạnh đến với dutule.com (1). Tôi đã chọn hai bài lục bát và chương một trong trường ca Chạm đáy sông đầy, làm thành bài Giới thiệu chân dung tiếng thơ xa, lạ, nhưng đã mang đến cho tôi ít, nhiều bất ngờ từ đó… Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh Một ngày cuối năm, tôi không nghĩ lại nhận được tập bản thảo “Phơi cơn mưa lên chiều” của Nguyễn Ngọc Hạnh. Thật tình, khi mở tập thơ, tôi không chờ đợi anh sẽ đem đến cho thơ những biến-động-chữ-nghĩa gì đáng kể, nhiều hơn thơ trước. Bởi lần đầu đọc Nguyễn, từng khiến tôi phải chú ý với những câu thơ khá mới, như: “Hình như ai vấp chân mình/ hớ hênh chân bước gập ghềnh bàn chân” Hay: “Ai gõ mạn thuyền trên sông vắng/ mà mái chèo cằn cựa đến xa xăm”. Tôi vẫn có xu hướng thiếu tin tưởng vào đường bay thi ca của những nhà thơ trung-niên, trước hiệu-ứng-thời-gian. Đó là hiện tượng thời gian bào mòn cảm xúc, khô, sần rung động; khi sung mãn tuổi trẻ như thủy triều rút đi, xa lần bờ bãi…Riêng với Nguyễn Ngọc Hạnh: Tôi lầm. Qua tập thơ Phơi cơn mưa lên chiều, tôi cảm tưởng, dù có thêm bao nhiêu năm, tháng qua đi, dòng sông thi ca có dễ vẫn đem phù-sa-chữ-nghĩa về cho thơ của Nguyễn, như đã. Cảm tưởng vừa nói, nơi tôi, sớm dấy lên khi nhận ra trong tập thơ này. Ngay từ những cơn-mưa-trí-tuệ đầu tiên trong…phơi lên chiều của Nguyễn, đã cho thấy từ bệ phóng chiêm nghiệm nhân sinh, lao lung kiếm tìm cái mới mà, chữ, nghĩa của Nguyễn luôn là “biểu-tâm-đồ-thi-ca” chân-thiết nhất, dù vẫn trong cái khung nền thất-tình muôn đời của nhân loại: Không rực rỡ cầu vồng bảy sắcmây in đời em vào tôi xanh biếc…Biết là chân thấp trời caoVầng trăng phía trước bèo ao phía nàyRuột gan cháy xé miệng cayTôi xin dốc cạn trời mây…Rượu tràn…Đâu là bả vọng hư danhCâu thơ mắc cạn giữa vành môi cong…Bàn chân vấp bước chân mìnhSắc không chân lại gập ghềnh bờ aoĐâu là đất thấp trời caoĐâu là dấu vết cồn cào đầy vơiNhiễu nhiên da lột mặt ngườiCâu thơ tát nhẹ vào tôiSáng bừng!(Câu thơ mắc cạn) Ở Phơi cơn mưa lên chiều, nơi chốn và hình ảnh người Mẹ, không chỉ như hai ngọn hải đăng lớn trong biển nghiệp thi ca Nguyễn Ngọc Hạnh mà, với tôi, nó còn mang tính song-sinh của tâm-lượng thi sĩ giữa con người và đất nước nữa…Lịch sử thi ca thế giới, nhất là thi ca Việt Nam, dường như chưa tác giả nào quên nói về mẹ. Nhưng cách nói về mẹ của Nguyễn Ngọc Hạnh, là cách nói trước đây, ta chưa hề thấy: Mẹ sinh ra trong rơm rạNên hương đồng còn thơm mãi đời anhHoặc:Bất chợt nhớ ngày xưa đến lạMơ được một lần làm mẹ để sinh con--- Trong bài “Qua đò, nhớ mẹ”, Nguyễn viết:Không gọi đò, con gọi mẹ ơiTrên bến sông nàyngày xưa mẹ tắmNước tận đầu nguồnchảy ra biển lớnmang theo phù satừ sữa mẹ ngọt ngào…Không gọi đò, con gọi mẹ ơi!Sông thì hẹpmà vô bờ đến vậyCon đi qua hết một thời trai trẻTừ chiếc đò lòng mẹQua sôngÔi con đò lòng mẹmênh mông!--- Hoặc nữa, trong “Chỗ mẹ nằm”:Gửi lại em đời mẹ chênh vênhhéo hon cả thời thiếu nữđi biển một mình đêm sóng dữcho con lành lặn giấc mơ ---Gửi lại em anh của bây giờcòn hơi ấm chiếu chăn ngày ấynơi mẹ nằm yêu thương đến vậynên suốt đời chỗ ướt vẫn chưa khô  Trong trường ca Chạm đáy sông đầy, Nguyễn Ngọc Hạnh cũng cho tôi những liên tưởng, ẩn dụ mới như  “trong vườn là chuối khô thô ráp/ tiếng khóc chạm tiếng ve/ khúc hát trưa hè/ sông dọc bờ quê/ tiếng khóc lịm dần rơi giữa cơn mê, rơi trong vườn bắp tẻ/ rơi xuống trần gian một kiếp người”. Nguyễn Ngọc Hạnh vốn có những câu thơ hay về làng quê: “Xưa tôi sống trong làng/ Giờ làng sống trong tôi” viết đã lâu rồi. Thế mà cái đẹp của những thi ảnh, tên gọi, đã ẩn tàng trong máu huyết: Cái làng ấy ra đi cùng tôiMà tôi nào hay biếtChỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viếtCon sông quê bóng núi cứ chập chờn Mấy câu thơ trên khiến tôi liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn. Nhưng đất hóa tâm hồn là một liên tưởng phiếm định vì tính mơ hồ của hình tượng. Ở Nguyễn Ngọc Hạnh thì đất của làng, rất cụ thể. Nó được chỉ danh rõ ràng: – Thứ nhất: Đất đây là “cái làng”. – Thứ hai: Cái làng ấy “nó” đi theo tác giả. – Thứ ba: “Con sông quê, bóng núi cứ chập chờn” trong Nguyễn, dù nhà thơ đi đâu, ở bất cứ nơi nào. Tới hôm nay, tôi chưa được đọc câu thơ nào nói về sự gắn bó thịt, xương giữa nơi chốn và con người cảm động hơn thế. Lại nữa, nơi chốn trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh còn được chỉ đích danh, như xác định tính “sở hữu” người yêu của mình: Hội An mình vừa phố vừa quêEm đài các lại mặn mà thôn nữNét ngây thơ hiền hoà cố xứMái ngói cong soi bóng sông Hoài ---Ngã ba này là bến sông xưaHồn phố cổ chứa trong tà áo đẹpBao năm rồi người xa biền biệtBóng trăng quê giữa phố vẫn rằm Dường như tình yêu mẹ và tình yêu nơi chốn với Nguyễn Ngọc Hạnh, là một cặp song sinh? Nên đôi khi tình yêu mẹ và nơi chốn chỉ là một. Là một, ngay trong những bài lục bát vốn là một trong vài thể thơ được coi là “điểm mạnh” của cõi-giới thơ Nguyễn với ngôn ngữ mới và, sự giàu có của những xúc động tự nguồn: Chiều buồn phố rất nên thơQua sông mà cứ mong chờ hoàng hônChiều lên nửa phố chiều trôngNgười đi từ phía bão giông chưa về! ---Tảo tần đời mẹ chân quêBao năm lặn lội đi, về triền sôngNón che không hết mùa đôngPhố che không hết nỗi buồn trần gian… Nếu trong những bài thơ của Nguyễn tôi được đọc cách đây nhiều năm là tính mới mẻ trong so sánh, liên tưởng thì ở thi phẩm Phơi cơn mưa lên chiều, những đặc tính ấy của thơ Nguyễn, có phần phong phú, sâu, lắng hơn. Thí dụ: Khi em cầm ngọn gió cuối thuChiếc lá vàng rơi vào bài thơ tình phai nhạt… Tới đây, tôi thấy không thể tiếp tục quan điểm “chỉ gợi ý” với những dòng thơ chọn được mà, xin phép bạn đọc, cho tôi được nói rõ hơn, cảm nhận của mình về hai câu thơ trên của Nguyễn. Đứng về phương diện kỹ thuật, tôi không biết Nguyễn cố ý hay vô tình nhân cách hóa ngọn gió cuối thu, cho người con gái cầm trên tay? Để, vì là ngọn gió cuối thu, nên hình ảnh chiếc lá vàng hiện ra ở câu thơ kế tiếp rất ứng hợp với ngữ – cảnh. Và, chiếc lá vàng lại “rơi” trong một ngữ cảnh cũng không thể thích hợp hơn là: bài thơ tình phai nhạt (như sự thôi xanh của những chiếc lá cuối mùa). Tôi gọi đó là kỹ thuật liên-tưởng-gián-cách. Không cần chiếc cầu nối “liên từ” (conjunction) nào. Một thi sĩ khác, để “hiển thị” hoặc, muốn đem sự dễ hiểu đến cho người đọc, có thể sẽ viết “Khi em cầm ngọn gió cuối thu” khiến anh nghĩ tới lá vàng. Và chiếc lá vàng ấy, đã rơi vào “bài thơ tình phai nhạt”. Tới đây, tôi nghĩ không nên viết thêm điều gì nữa, về cõi-giới thơ mênh mông kênh, mạch của Nguyễn. Vì có viết thêm bao nhiêu, cũng sẽ không đủ. Nên, tôi xin khép lại bài viết này, bằng bài Còn nợ phía bèo trôi. Một bài thơ cho thấy tấm lòng biết ơn đời, biết ơn người và, biết ơn luôn cả rác rến (phía bèo trôi) của cuộc sống, một khi tác giả phải đi xa, khuất, biệt cuộc đời này: Biết lấy gì để tặng cơn mưaCứ lất phất bay như gió nhẹCứ rơi rơi trong chiều lặng lẽMưa cứ mưa đan chéo nỗi buồnBiết lấy gì để tặng hoàng hônAi đã nhuộm màu trời huyền ảoĐâu dễ vẽ nên chiều quyến rũDễ pha chiều vào giữa hồn tôiBiết lấy gì để tặng đêm trôiLấy gì lấp đầy hao khuyếtKhi yêu ai nói lời hối tiếcThôi đừng bịn rịn với chiều buôngBiết lấy gì để tặng nỗi buồnXin trích đời tôi ngày gió bãoTrích phận em phập phù thiếu nữChẳng có ngày vui đàn bà…--- Lấy gì đây để tặng đời tôiKhi giấc mơ sắp khép lại rồiBiết trích vào đâu mà gửi lạiCâu thơ còn nợ phía bèo trôi... Tôi trộm nghĩ, nếu Nguyễn Ngọc Hạnh băn khoăn về món nợ tinh thần của mình với “phía bèo trôi”… thì, những người đọc thơ của anh, rồi đây, sẽ lấy gì để trả món nợ mà, một đời Nguyễn đã tự nguyện hiến, tặng qua thi ca: Một đời luỵ với câu thơCòn bao nhiêu chuyến, bao giờ đò ơi?  Du Tử LêGarden Grove, Apr. 2017

Nhịp Sống Nhà Văn

Nghệ sĩ Mạc Can: Quyết không bỏ nghề dù ăn cơm với chuối

Nghệ sĩ Mạc Can: Quyết không bỏ nghề dù ăn cơm với chuối

Mạc Can chia sẻ chân tình về chặng đường nghệ thuật cơ cực một cách dí dỏm và “nhẹ hều” nhưng vẫn toát lên tình yêu nghề mãnh liệt đã khiến nhiều người rơi nước mắt. Vừa khỏe lại sau một thời gian bệnh nặng, nghệ sĩ Mạc Can đã tự mình chạy xe máy đi quay. Diện bộ vest bảnh bao để “lên hình”, ông nhờ ê-kíp xem dùm ông mặc trang phục như thế này đã được chưa. Ông bảo mình rất khỏe và chỉ mới 45 tuổi thôi, lại còn đùa rằng mình đang tích cực tập gym và đưa tay lên để khoe cơ bắp. Nghệ sĩ Mạc Can Trước khi bắt đầu buổi trò chuyện Ký ức Sài Gòn, nghệ sĩ Mạc Can đã bông đùa như vậy. thỉnh thoảng ông cũng pha trò khiến MC ngơ ngác không biết ông đang nói đùa hay thật. Tuy nhiên, những chia sẻ chân tình về chặng đường nghệ thuật cơ cực một cách dí dỏm và “nhẹ hều”, vẫn toát lên tình yêu nghề mãnh liệt của ông đã khiến nhiều người rơi nước mắt. Mạc Can – Người hát xiệc trên sông và một đời rong ruổi Câu chuyện của nghệ sĩ Mạc Can bắt đầu từ năm 1945, khi ông vừa được sinh ra ngay trên chiếc ghe hát là phương tiện kiếm sống của cả gia đình. Hoàn cảnh ra đời đặc biệt của Mạc Can có lẽ cũng là điềm báo cho một cuộc đời phiêu bạt, rong ruổi của ông sau này. Cha của Mạc Can là ảo thuật gia Lê Văn Quý, thuộc hàng quái kiệt thời bấy giờ. Tuổi thơ của Mạc Can là những ngày lênh đênh trên sông nước Mỹ Tho và các tỉnh miền Tây để đi “hát xiệc” cùng cha mẹ. Chú bé Mạc Can ngày đó cũng đã tham gia trình diễn một số màn ảo thuật, trong đó có màn phóng dao mà sau này ông đưa vào tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của mình. Tuổi thơ của nghệ sĩ Mạc Can Những năm 60, do đời sống người dân khó khăn nên gánh xiệc của gia đình ông không có khán giả. Ông rời quê lên Sài Gòn, sống tại đường Nguyễn Biểu. Lúc này ở Sài Gòn có rất nhiều phòng trà ca nhạc, rạp chiếu phim, ông xin vào biểu diễn hài ảo thuật trong các chương trình gọi là “phụ diễn tân nhạc” để giúp vui, cũng như để “câu giờ” trong lúc các rạp chiếu chờ người mang bản phim đến. Ông nói vì mình không có được vóc dáng to cao như những ảo thuật gia khác, nên khó “hớp hồn” khán giả, vì vậy ông chọn hướng diễn hài ảo thuật để phù hợp với vóc dáng bèo nhèo, nhỏ con và hay lăng xăng của mình. Ông chọn những tiết mục có kịch tính, lâu lâu để lộ ra giống như mình bị bể mánh trên sân khấu để tạo tiếng cười cho khán giả. Ông bảo: “Cái này hổng phải mình phá nghề ảo thuật, mà đây được gọi là xiệc hài. Tuy nhiên, tôi không bao giờ lấy tiết mục của bạn bè để bật mí ra như vậy, mà chỉ toàn lấy tiết mục của chính mình, để không làm phiền đến ai”. Đi diễn nhiều năm, hỏi ông tiền bạc kinh phí như thế nào, ông cười: ”Lương bổng với tôi xưa giờ không quan trọng lắm, vì tôi ăn đạm bạc, uống thì chỉ cần trà đá thôi, nên không có đòi hỏi gì nhiều, cũng không có nhu cầu gì lớn nên rất dễ sống…”. Tuy nhận mình ít học và không biết cách viết xuống hàng như thế nào cho phải nhưng Mạc Can lại rất có duyên viết lách. Đầu tiên có thể nói là vai trò viết báo. Ông kể thập niên 90, ông lân la vào các đoàn phim và tập viết báo với những tin nho nhỏ và được nhiều người gọi là ký giả cà phê. Rồi sau đó ông có duyên được đạo diễn Thế Ngữ mời viết kịch bản cho chương trình Trong Nhà Ngoài Phố của HTV vì ông hay đi nhiều, biết nhiều. Một trong những vở kịch ấn tượng của Mạc Can trong chương trình Trong Nhà Ngoài Phố là vở “Cục gạch của ai” với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Hồng Vân, Quang Đại, Lê Vũ Cầu, Anh Thư, Thanh Sơn, Phi Phụng,… Vở nói về thời kỳ xăng nhớt còn hiếm và nhiều câu chuyện bi hài xung quanh việc mua bán xăng. Mạc Can cũng được đạo diễn Thế Ngữ ưu ái viết thêm cho mình 1 vai trong vở này. Đó là vai người đàn ông đi mua xăng chỉ để bơm cho chiếc hộp quẹt của mình. Ông kể thời kỳ này Trong Nhà Ngoài Phố được rất nhiều khán giả yêu thích và tối thứ Năm tuần nào mọi người cũng ở nhà để đón xem. Chỉ cần xuất hiện trong chương trình là hôm sau ra chợ sẽ được khán giả, bà con tiểu thương ở chợ Bến Thành nhận ra ngay. Cho đến bây giờ, nghệ sĩ Mạc Can vẫn xem đạo diễn Thế Ngữ là một người Thầy vì các kịch bản của ông thời đó được đạo diễn Thế Ngữ hiệu chỉnh và thêm thắt cho kịch tính hơn. Việc tham gia chương trình Trong Nhà Ngoài Phố đã mở ra cho Mạc Can cơ hội đến với điện ảnh. Ông kể nhờ được xuất hiện trên ti vi mà sau đó ông được đạo diễn nổi tiếng Lê Hoàng Hoa mời vào một vai trong phim Ván Bài Lật Ngửa. Nghệ sĩ Mạc Can trong phim “Đất Phương Nam” Vị đạo diễn nổi tiếng cần một diễn viên có khả năng diễn trò ảo thuật….chặt đầu người đặt lên dĩa và giả gái để hát vọng cổ. Trong câu hát đó sẽ có “mật mã” để cho nhân vật Nguyễn Thành Luân (do Nguyễn Chánh Tín đóng) nhận ra. Một yêu cầu rất khó nhưng Mạc Can nói rằng ông có thể làm được và đã nhận lời. Và phân đoạn có sự xuất hiện của nghệ sĩ Mạc Can xuất hiện trong tập 1 của phim với thời lượng khoảng 1 phút. Ông hóm hỉnh cho biết khi xem phim, khán giả phải thật sự chú ý, nếu có làm rơi đồ thì cũng không được rời màn hình vì sẽ bỏ lỡ cảnh có sự xuất hiện của ông. Dù xuất hiện thoáng qua nhưng ông nói mình cảm thấy “rất oai” khi được xuất hiện trong bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam. Ngoài bộ phim Ván bài lật ngửa, nghệ sĩ Mạc Can còn xuất hiện trong nhiều bộ phim điện ảnh nổi tiếng như Áo lụa Hà Đông (vai người đàn ông đẩy thùng xe chiếu bóng di động), phim Xích lô (vai diễn có đoạn thoại với ngôi sao Hồng Kông Lương Triều Vỹ), Khi đàn ông có bầu (vai người giúp việc ở phòng khám),… Ông nói dù vai nhỏ, xuất hiện thoáng qua nhưng vai nào ông cũng cố gắng diễn hết sức của mình. Mạc Can và những lần bị tai nạn trên phim trường Cải Ơi! là phim truyền hình dài 90 phút của đạo diễn Phương Điền mà nghệ sĩ Mạc Can đảm nhận vai chính. Ông vào vai ông Tư Đèo bán kẹo kéo ở những gánh hát miền quê, bị lạc mất đứa con gái tên Cải. Bộ phim đã từng lấy nước mắt của không ít khán giả và cả… bản thân Mạc Can. Nghệ sĩ Mạc Can trong phim “Cải Ơi!” Ông kể trong phim có cảnh ông Tư Đèo dẫn trâu ra sông tắm. Cảnh quay được thực hiện ở một cánh đồng ở Long An. Trong lúc diễn, ông bị trâu giẫm vô chân. Cũng may lúc đó ông đang đứng dưới sông, nhờ có sình nên chân ông không bị nặng nhưng vẫn đau đến mức rơm rớm nước mắt. Ông cố nhịn đau để diễn cho xong cảnh quay. Quay xong mọi người mới phát hiện chân của ông bị tươm máu và sau đó còn sưng vù. Chị chủ nhiệm của đoàn phim thấy vậy đã giúp ông băng bó vết thương và cho đến bây giờ ông vẫn không quên cảm ơn sự giúp đỡ của chị. Mạc Can trên trường quay phim Xóm Suối Sâu Vì quá yêu nghề nên chuyện bị tai nạn trên phim trường với nghệ sĩ Mạc Can không phải là hiếm. Ông kể trong lúc tham gia phim cổ tích Hoàng tử cứu mẹ, ông vào vai…mụ phù thủy (ông và nghệ sĩ Hồng Sáp đóng chung một vai). Cảnh phù thủy cưỡi ghế bay được thực hiện bằng cách quay cảnh bầu trời trước, sau đó quay cảnh ông ngồi trên ghế, rồi dùng quạt máy thổi cho quần áo bay giống như đang bay trên trời. Có lẽ do quay và quạt nhiều quá nên về nhà, “phù thủy” Mạc Can bị trúng gió luôn. Quyên góp 20 triệu đồng cho sinh viên nghèo, Mạc Can: “Nhờ các cháu học dùm tui, bởi tui học ít quá” Nghệ sĩ Mạc Can còn nổi tiếng ở vai trò viết sách. Và một trong những tác phẩm thành công nhất của ông đó là tiểu thuyết Tấm ván phóng dao. Ông kể mình chưa bao giờ nghĩ tác phẩm này của mình sẽ được in thành sách. Lúc nhà văn Hồ Anh Thái gọi điện thông báo về việc in tác phẩm và đăng ký tham gia cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội Nhà Văn, Mạc Can đang chạy xe trên đường. Nghe tin, ông mừng đến mức tấp xe vào lề đường và khóc ngon lành. Và bất ngờ hơn nữa khi tác phẩm này sau đó lại nhận được giải A cuộc thi viết Tiểu thuyết năm 2005 của Hội Nhà Văn. Các tác phẩm sách của nghệ sĩ Mạc Can Trong lần ra Hà Nội nhận giải, ông đã trích 20 triệu đồng trong 50 triệu tiền thưởng của mình để tặng cho các bạn sinh viên nghèo để mua bút mực. MC chương trình hỏi vì sao bản thân ông vốn rất khó khăn lại có thể san sẻ một số tiền lớn như vậy, ông nói vì mình ít học quá nên ông muốn các bạn sinh viên có thể học thêm dùm ông. Tấm lòng của nghệ sĩ Mạc Can đã khiến cho MC Mai Anh không giấu được những giọt nước mắt. “Không bỏ nghề, có nhiều thì ăn nhiều, có ít thì ăn ít, ít hơn nữa thì ăn cơm với chuối” Gắn bó cả đời với nghệ thuật, từ hát xiệc, diễn viên, ký giả kịch trường đến sáng tác kịch bản, viết văn… nhưng ở tuổi 75, gia tài lớn nhất của nghệ sĩ Mạc Can là những vai diễn, những tác phẩm để lại cho đời. Ông vẫn sống một mình và có hoàn cảnh rất khó khăn. Khi được hỏi liệu ông có tiếc nuối không khi trót làm nghệ sĩ, ông bảo mình không tiếc nuối và chưa từng có ý định bỏ nghề vì ông sợ những khán giả yêu mến ông sẽ buồn. Ông vẫn sống nhờ vào việc đi diễn và viết lách. “Kiếm được nhiều thì ăn nhiều, ít thì ăn ít, ít hơn nữa thì ăn cơm với chuối cũng đâu có sao”, ông nói. Theo Saostar