Giỏ hàng của bạn trống!

Tin Tức & Sự Kiện

Giải thưởng Bùi Xuân Phái vinh danh nhạc sỹ ‘Hoa sữa’ Hồng Đăng

Giải thưởng Bùi Xuân Phái vinh danh nhạc sỹ ‘Hoa sữa’ Hồng Đăng

Nhạc sĩ Hồng Đăng giành Giải thưởng Lớn Bùi Xuân Phái với những sáng tác về Hà Nội. “Kỷ niệm ngày xưa vẫn còn đâu đó, những bạn bè chung, những con đường nhỏ. Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm có lẽ nào anh lại quên em…” Cứ mỗi độ cuối thu đầu đông, mùi hương hoa sữa lại ngọt ngào trên từng con phố Hà Nội khiến người ta không khỏi nhớ tới bài hát Hoa sữa của nhạc sỹ Hồng Đăng. Ông đã đóng góp một trong những bài hát lãng mạn nhất về Thủ đô dù ca từ không hề nhắc đến Hà Nội. Ghi nhận tình yêu và cống hiến của nhạc sỹ, Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội của Báo Thể thao và Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) đã vinh danh Hồng Đăng ở hạng mục Giải thưởng lớn. Lênh đênh hoa sữa – Mênh mông tình yêu Hà Nội Giải thưởng lớn là hạng mục quan trọng nhất của Giải thưởng Bùi Xuân Phái, được trao hàng năm cho người “có những cống hiến suốt đời cho Hà Nội bằng các tác phẩm, ý tưởng, việc làm xuất sắc, bằng sự gắn bó máu thịt với Hà Nội trong cả cuộc đời và sự nghiệp của mình.” Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái-Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 14 diễn ra ngày 28/10 đã vinh danh nhạc sỹ Hồng Đăng vì những cống hiến xuất sắc cho nền âm nhạc Thủ đô của ông, trong đó có các tác phẩm đã thành biểu tượng về Hà Nội như Hoa sữa, Lênh đênh, Kỷ niệm thành phố tuổi thơ… Do sức khỏe yếu nên nhạc sỹ không thể đến nhận giải. Phu nhân của ông, bà Lê Anh Thúy bày tỏ sự xúc động trước sự ghi nhận này. “Nhạc sỹ Hồng Đăng có một tuổi thơ ‘lênh đênh’ vất vả, nên ông giàu cảm xúc, trọng tình cảm và trân quý những ngày tháng sống tại Hà Nội. Cuộc đời truân chuyên dường như là chất liệu cho những sáng tác của ông. Tôi rất xúc động khi những sáng tạo của Hồng Đăng được ghi nhận, nhất là ở thời điểm ông không còn nhiều thời gian nữa”, vợ của nhạc sỹ rưng rưng. Ông Lê Hồng Sơn (ngoài cùng bên trái), Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội và nhà báo Lê Xuân Thành, Tổng biên tập báo Thể thao và Văn hóa (ngoài cùng bên phải) trao giải thưởng lớn cho gia đình nhạc sỹ.  Quê gốc Yên Thành, Nghệ An, “ông đồ xứ Nghệ” Hồng Đăng ra Hà Nội và học khoa sáng tác Trường Âm nhạc Việt Nam khóa I năm 1956. Tác phẩm mà ông trình làng sớm nhất với thủ đô là thanh xướng kịch Sông Hồng ngàn năm (kịch bản Dương Viết Á) đã được Đoàn Ca múa Hà Nội trình diễn năm 1964 dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Nguyễn Hữu Hiếu. Cũng là sông Hồng, bên cạnh tác phẩm vạm vỡ nói trên, lại là một ca khúc mảnh mai xinh xắn Người sông Hồng: “Tôi yêu con sông, yêu từ thưở nhỏ, sông dài uốn mình, vắt ngang thành phố, những chiều tháng năm, con sông nắng chói… Người của sông Hồng dù đi đến đâu vẫn nhớ nhịp cầu Thăng Long yêu dấu…”. Ông đã ý nhị giải thích cho quá trình Hà Nội hóa của người bốn phương bằng ca khúc Duyên Hà Nội: “Dù từ xa về, hay ở quanh đây, một sớm một chiều, em đã thành người Hà Nội. Những bước đầu tiên, ngập ngừng bối rối.” Có lẽ Hoa sữa là ca khúc tình yêu đã được gạn chắt từ những giai điệu trên. Ca khúc này được ông viết trong nhạc phim Hà Nội mùa chim làm tổ nói về công cuộc xây dựng lại Hà Nội sau tháng Chạp “Điện Biên Phủ trên không.” Nhạc sỹ Hồng Đăng Dâng hiến của Hồng Đăng với tình yêu Hà Nội không chỉ là để lại những sáng tác nổi tiếng cho Thủ đô mà ông còn đóng góp ở lĩnh vực đào tạo những thế hệ sau ở Trường Âm nhạc Việt Nam sau đổi là Nhạc viện Hà Nội và bây giờ là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Nhà thơ Thụy Kha, người bạn thân thiết với nhạc sỹ Hồng Đăng trên mọi nẻo đường của cuộc sống, nhất là trong âm nhạc, cho hay: “Ở ông luôn toát lên vẻ đẹp thanh lịch của người Tràng An. Từ năm 1990, tôi về làm Tạp chí Âm nhạc mà ông là Tổng biên tập. Tạp chí Âm nhạc thời ông chỉ đạo đã không chỉ có tiếng vang với độc giả trong làng nhạc trong nước mà cả trên thế giới. Một thư viện của Anh đã lưu giữ những số tạp chí của thời kỳ này.” Trước đó, đã có nhiều tên tuổi được trao Giải thưởng Lớn gồm: Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc (2009); Nhà văn Tô Hoài (2010); Giáo sư Phan Huy Lê (2011); Nghệ sĩ guitar Văn Vượng (2012); Nghệ sỹ nhiếp ảnh Quang Phùng (2013); Nhà nghiên cứu Vũ Tuân Sán (2014); Nhà nghiên cứu Giang Quân (2015); Nghệ sỹ nhiếp ảnh Lê Vượng (2016); Nhà nghiên cứu Hữu Ngọc (2017); Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Đạm (2018); Nhà nghiên cứu Nguyễn Thừa Hỷ (2019) và gần đây nhất, năm 2020 là nhạc sĩ Phú Quang. Dù COVID-19 vẫn bội thu Diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp, nhưng giải thưởng năm nay tiếp tục có một vụ mùa bội thu. Từ 35 “ứng viên” ban đầu, qua các vòng sơ khảo, chung khảo, Hội đồng giám khảo đã thông qua Danh sách đề cử và trao giải cho những Tác phẩm, Ý tưởng, Việc làm “Vì tình yêu Hà Nội.” Giải Tác phẩm đã được trao cho triển lãm ảnh và cuốn sách “Hà Nội 1967-1975” của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt. Có 130 bức ảnh màu và đen trắng đã được tuyển chọn, in sách với tiêu chí chỉ tập trung vào đời sống chân thật, dung dị nhất của Hà Nội trong những năm tháng kháng chiến qua con mắt của một nhiếp ảnh gia nước ngoài với 3 serie: “Hà Nội đời thường”, “Trẻ em thời chiến” và “Lính phi công Mỹ bị giam trong nhà tù Hỏa Lò”. Được tổ chức vào tháng 10/2020, triển lãm ảnh đã thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng về hình ảnh một Hà Nội thời chiến do nhiếp ảnh gia Đức Thomas Billhardt chụp trong giai đoạn lịch sử nói trên. Cùng với triển lãm, cuốn sách ảnh cùng tên cũng đã được Nhà xuất bản Thế giới và Công ty Nhã Nam ấn hành. Nhà báo Lê Xuân Thành, Tổng biên tập báo Thể thao và Văn hóa phát biểu tại Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái-Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 14. Từ năm 1967 đến 1975, Thomas Billhardt đã đến Việt Nam 6 lần, và trở lại 6 lần nữa. Những bức ảnh về chiến tranh Việt Nam cuối thập kỷ 1960 đã khiến ông nổi tiếng khắp thế giới. Từ Đức, nhiếp ảnh gia Thomas Billhardt chia sẻ: “Việt Nam đã cuốn hút tôi ngay từ đầu. Sự dịu dàng của con người, âm nhạc nhẹ nhàng và tất cả những điều đáng yêu đó tương phản với ý chí mạnh mẽ và sự khô cứng của con người trong thời chiến. Văn hóa, tình yêu thơ ca và ẩm thực tuyệt vời đã nhanh chóng khiến tôi trở thành một người bạn và một người ngưỡng mộ Việt Nam. Ấn tượng đầu tiên này được thể hiện lặp đi lặp lại trong tất cả các chuyến đi của tôi.” Năm nay, Ban tổ chức trao hai giải Ý tưởng cho Đồ án Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng do Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội nghiên cứu, xây dựng với sự chỉ đạo của thành phố Hà Nội và sự phối hợp với các ban ngành liên quan. Trong suốt năm 2021, những thông tin về bản đồ án Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng luôn nhận về sự quan tâm của hàng triệu người dân Thủ đô khi nó gắn với câu chuyện đã được bàn tới trong hàng chục năm qua: Đưa Hà Nội thoát cảnh “ngoảnh mặt” với sông Hồng. Điểm nổi bật ở đồ án này là ý tưởng làm trong sạch môi trường đô thị, dám dành tới 70% diện tích tại khu vực này chỉ để phục vụ cho các công trình trồng cây xanh và tạo không gian công cộng, điều rất khác so với những ý tưởng từng được nhắc tới trước đây. Theo tiến độ, nhóm thực hiện sẽ xin ý kiến Bộ Xây dựng và dự kiến sẽ được thông qua vào cuối năm nay. Giải Ý tưởng thứ hai được trao cho đề xuất Xây dựng hầm ngầm chống ngập kết hợp cao tốc ngầm và cải tạo sông Tô Lịch thành công viên Lịch sử-Văn hóa-Tâm linh do Công ty Cổ phần Tập đoàn Môi trường Nhật Việt JVE (JVE Group) và đối tác Nhật Bản đề xuất lập quy hoạch. Giải quyết tận gốc tình trạng ô nhiễm, xây dựng một hệ thống hạ tầng chống ngập khổng lồ gắn với đường cao tốc ngầm, biến toàn bộ không gian kéo dài 15km của sông thành một công viên văn hóa đặc biệt để phục vụ cộng đồng, đó là giấc mơ lớn cho cả Hà Nội thay vì riêng con sông Tô Lịch. Giải Việc làm đã được trao cho “Chiến dịch tiêm vaccine tại Hà Nội đạt đúng tiến độ cùng với những nỗ lực của lực lượng phòng chống dịch COVID-19 đã giúp Thủ đô vững vàng trong đại dịch.” Cụ thể, ngày 8/9/2021, Kế hoạch số 206/KH-UBND xét nghiệm diện rộng, tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho người dân Thủ đô đã được ban hành nhằm tập trung mọi nguồn lực, tranh thủ từng phút, từng giờ, bằng mọi biện pháp, tận dụng tối đa thời gian “vàng” trong thời gian giãn cách xã hội. Trong tuần “thần tốc” tiêm chủng từ ngày 8-15/9, Hà Nội đã huy động 1.600 dây chuyền tiêm hoạt động liên tục, các điểm tiêm đều mở tối đa công suất, cao nhất ngày 12/9 tiêm 573.000 mũi. Chỉ trong 1 tuần, ngành y tế Hà Nội đã tiêm lượng vaccine phòng COVID-19 cao gần bằng 6 tháng trước cộng lại; 100% người dân đủ điều kiện đã được tiêm ít nhất 1 mũi… Đánh giá về mùa giải năm nay, nhà báo Lê Xuân Thành, Tổng biên tập báo Thể thao và Văn hóa cho hay đất nước đang trải qua khó khăn do dịch bệnh, có những lúc Ban tổ chức những tưởng phải hủy lễ trao giải năm nay. “Chúng tôi trăn trở phải làm sao tổ chức cho đàng hoàng, cho xứng tầm mà vẫn đảm bảo yêu cầu phòng chống dịch. Thực tế, lễ trao giải cũng đã phải lùi lại nhiều lần. Cuối cùng, thật may mắn là giải thưởng vẫn được tổ chức trang trọng, thậm chí còn được mở rộng quy mô”, ông cho biết. Bên cạnh đó, với cảm hứng từ hai giải Ý tưởng năm nay, Báo Thể thao và Văn hóa đã phát động Cuộc thi ảnh, video clip Hà Nội mát xanh từ ngày 28/10/2021 đến ngày 15/7/2022, nhằm phản ánh một vẻ đẹp vừa mang tính chất truyền thống của một “thành phố sông hồ,” vừa mang tính đương đại của Thủ đô xanh. Các tác phẩm được chọn tham gia vòng chấm giải sẽ được công bố chính thức trên website cuộc thi. Giải Đặc biệt dành cho tác phẩm xuất sắc nhất trị giá tối thiểu là 30 triệu đồng. Các tác phẩm vào vòng chung khảo và đoạt giải sẽ được triển lãm và trao giải trong khuôn khổ Lễ trao giải Bùi Xuân Phái-Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 15 tại Trung tâm Thông tấn Quốc gia, số 5 Lý Thường Kiệt, Hà Nội vào dịp 10/10/2022. Theo Minh Thu/Vietnam+ Giải thưởng Bùi Xuân Phái-Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 14 (năm 2021) Giải thưởng lớn-Vì tình yêu Hà Nội: Nhạc sỹ Hồng Đăng Giải Tác phẩm-Vì tình yêu Hà Nội: Cuốn sách và triển lãm ảnh “Hà Nội 1967-1975” của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt Đề cử giải Ý tưởng-Vì tình yêu Hà Nội: Ý tưởng xây dựng cao tốc ngầm và cải tạo sông Tô Lịch thành công viên lịch sử, văn hóa, tâm linh Đồ án Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng Đề cử giải Việc làm-Vì tình yêu Hà Nội: Chiến dịch tiêm vaccine tại Hà Nội đạt đúng tiến độ cùng với những nỗ lực của lực lượng phòng chống dịch COVID-19 đã giúp Thủ đô vững vàng trong đại dịch.

Văn Hóa Văn Nghệ

Mối quan hệ giữa phê bình văn học và người sáng tác

Mối quan hệ giữa phê bình văn học và người sáng tác

Nhà phê bình Lê Xuân Đặt vấn đề: Nhà thơ Gớt (người Đức) đã nói “Mọi lý thuyết đều là màu xám. Chỉ có cây đồi mãi mãi xanh tươi”. Vì vậy, mọi lý thuyết về Lý luận Phê bình văn học (PBVH) cũng chỉ là điều tham khảo, học hỏi thêm đối với người sáng tác. Công việc của người phê bình văn học (PBVH): Nghiên cứu lý luận PBVH là một vấn đề khó, đòi hỏi người viết phải có một trình độ lý luận và một kiến thức tổng hợp trên nhiều phương diện. Và đặc biệt, cần phải có một nhãn quan chính trị tinh nhạy, một quan điểm đúng đắn. Ở thời nào cũng vậy, văn học không thể thoát ly cuộc sống. Muốn hay không văn học từ cái “Tôi” cá thể, thông qua hình tượng nghệ thuật tác động tới con người và cuộc sống, góp phần mở rộng tầm mắt, nâng cao tâm hồn con người. Trong thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập, giao lưu quốc tế trên nhiều lĩnh vực, thời đại bùng nổ thông tin trên mạng internet, thì lý luận PBVH cũng có những điều chỉnh hướng bạn đọc có thể “đồng sáng tạo” với tác giả văn học, và trước hết là cho đội ngũ sáng tác. Công việc PBVH đòi hỏi người viết phải thấu hiểu tác phẩm, tác giả, khen chê phải khách quan vô tư, không để những tình cảm thân quen hay vụ lợi lấn át, nhằm động viên tác giả phát huy mặt mạnh và thấy được những mặt còn yếu kém để khắc phục. Có người đã nói PBVH như một “ngọn roi”. Nếu ngọn roi ấy quất lung tung sẽ có những tác hại khôn lường. Người viết PBVH cần phải có tư duy khoa học kết hợp với tư duy nghệ thuật một cách hài hòa, chặt chẽ, và rất cần một sự nhạy cảm trong thẩm định văn chương và phải đọc và hiểu biết thêm nhiều tư liệu ngoài tác phẩm như: âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, nhiếp ảnh, địa lý, lịch sử, triết học, xã hội học, ngoại ngữ, internet… Ngoài ra, người viết PBVH trước hết rất cần một trái tim nhân ái, một tấm lòng vị tha, một cái nhìn khoa học thấu tình đạt lý để hiểu tác phẩm, tác giả. Từ đó hướng dẫn thị hiếu thẩm mỹ cho đông đảo công chúng. Đồng thời còn phải am hiểu tình hình thời sự văn học trong và ngoài nước, nắm được các trào lưu tư tưởng, xu hướng văn học, đặc điểm của các thời kỳ, giai đoạn lịch sử văn học dân tộc. Mối quan hệ giữa PBVH và người sáng tác ở thành phố Cần Thơ: Riêng mảng PBVH không những ở Cần Thơ mà cả khu vực ĐBSCL còn thiếu và yếu. Người viết có thể đếm trên đầu ngón tay, còn quá mỏng, chưa tương xứng với sự phát triển của văn học địa phương, ít dẫn đường cho người cầm bút đi đúng quỹ đạo sáng tác. Một số tác giả thỉnh thoảng có viết vài bài PBVH dưới dạng giới thiệu tác phẩm hoặc biên khảo, như: Trần Phỏng Diều, Nguyễn Thanh (Ngũ Lang), Lương Minh Hinh, Trúc Linh Lan, Nắng Xuân. Bài viết phần lớn mới dừng lại ở mức “bàn thêm” về truyện, thơ, bình thơ, hoặc giới thiệu tác giả, tác phẩm… Người viết PBVH ngại đụng chạm những vấn đề “nhạy cảm” của xã hội, của dân tộc. Một số người có ý định trở thành nhà PBVH cũng gác bút, quay sang sáng tác thơ, truyện để đăng báo, tạp chí. Nguyên Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Hữu Thỉnh có lần đã nói: “Hiện nay chúng ta đang ‘đốt đuốc’ đi tìm nhà PBVH”. Có lẽ đó cũng là tình trạng chung của cả nước. Hiện nay có tình trạng là người viết PBVH rất ngại bị “đụng chạm”, sợ bị người khác quy chụp. Trên các Báo và Tạp chí ta thường thấy xuất hiện ba loại nhà PBVH. Một là loại phê bình cánh hẩu, tâng bốc nhau. Hai là loại phê bình bới lông tìm vết, quy chụp. Ba là loại phê bình “dĩ hòa vi quý”, khen chê chung chung. Cả ba loại nhà PBVH trên đều không nên có ở một nền văn học chân chính. Về phía người sáng tác: Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một năng khiếu “bẩm sinh” mà ta gọi là “thiên phú” (trời cho), không thể lấy cần cù bù lấp được. Nhưng nếu cộng thêm sự cần cù học hỏi, trang bị thêm các kiến thức khác thì rất hữu ích cho việc sáng tác: Ví như: hiểu về ngôn ngữ học, tu từ học, lý luận PBVH… thì tác phẩm của họ sẽ có chiều sâu, có sức nặng hơn. Sáng tác là một công việc cực nhọc như “khổ sai” nhưng nếu có đam mê sẽ đem lại một niềm vui lớn. Nhà thơ Lê Đạt gọi các nhà thơ là “phu chữ”. Khi viết xong một tác phẩm ta như trút được gánh nặng. Đọc tác phẩm của các nhà văn Cần Thơ đã trãi qua đời lính như: Nguyễn Khai Phong, Phạm Văn Thúy, Nguyễn Đình Thắng, Nguyễn Hồng Chuyên, Trần Thanh Chương, Hkiên Giang, Ngọc Hương… ta sẽ hiểu sâu hơn, đúng hơn về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong kháng chiến chống Mỹ, chống bọn bành trướng Trung Quốc ở biên giới phía Bắc và bọn Pôn pốt phía Tây Nam. Đọc các tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký của các tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nhật Hồng, Ngọc Tuyết, Vũ Thống Nhất, Ngọc Bích, Lương Minh Hinh, Trần Anh Dũng, Huyền Văn, Cao Thanh Mai… ta hiểu sâu hơn mảnh đất và con người Nam Bộ qua các thời kỳ… Đọc thơ của các tác giả Lê Chí, Huỳnh Kim, Phù Sa Lộc, Trúc Linh Lan, Đặng Hoàng Thám, Huệ Thi, Nguyệt Ảnh, Nắng Xuân, Phan Huy, Phan Duy… ta cảm nhận được rất nhiều vẻ đẹp về con người và cảnh sắc Nam Bộ qua cái tôi trữ tình đầy cảm xúc… Nếu các tác giả trên không có vốn sống thực tế, không chịu khó tìm tòi sáng tạo thì làm sao có thể viết được những trang văn, dòng thơ đầy ám ảnh, thuyết phục trái tim người nghe, người đọc. Song, nếu tác giả được trang bị thêm kiến thức về Lý luận PBVH như: Các trào lưu văn học trong nước và thế giới, các phương pháp sáng tác, các loại thể văn học, đặc trưng văn học, các chủ nghĩa hiện thực, hiện đại, hậu hiện đại, lý thuyết về thi pháp học và các lý thuyết tiếp nhận khác… thì tác phẩm càng mang tính khái quát, phổ biến và có sức nặng. Ví dụ: Đọc tập truyện ký “Đêm vượt sông” của nhà thơ Trần Thanh Chương người đọc không những hiểu biết được nhiều sự kiện, sự việc, con người trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước mà còn biết thêm nhiều điều kỳ diệu ở một số nước mà tác giả đặt chân tới, như: Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phi Lip Pin, Căm Pu Chia… Tác giả đã nắm khá chắc các sự kiện, lịch sử, địa lý liên quan đến bài viết. Anh có 3 bài ký viết về nước ngoài: “Xem bóng đá Anh”, “Uống cà phê Anh” và “Kỳ vĩ Angko Wat”. Ở “Kỳ vĩ Angkor Wat”, anh luận bàn về nghệ thuật điêu khắc đá: “Về nghệ thuật xếp đá và điêu khắc trên đá, chắc chắn tổ tiên của người Việt và người Trung Hoa đều phải chắp tay bái phục người Khmer cổ đại. Nó xa hơn, tất cả các nghệ nhân chế tác đá trên thế giới – theo tôi, chỉ đáng là học trò của người Khmer. Không hiểu người Khmer cổ đại đã dùng dụng cụ gì để chạm trổ trên đá cứng, tạo ra những bức phù điêu, những hoa văn tuyệt mỹ giống như ngày nay ta chạm trổ trên gỗ. Các nhà khoa học cũng không lý giải nổi bằng cách nào chỉ với phương pháp thủ công, không có chất kết dính mà họ xếp chồng khoảng 10 triệu tảng đá (có tảng nặng 1,5 tấn) thành một công trình cao chót vót vừa vĩ đại, vừa nghệ thuật, gần ngàn năm qua vẫn sừng sững thách thức với thời gian (…) Ngày xưa, người Khmer đã xây dựng được những công trình vĩ đại đạt đến mức hoàn hảo như vậy, thì chắc chắn trình độ khoa học và nền kinh tế của họ phải phát triển đến mức độ rất cao. Không hiểu sao, một nền văn minh huy hoàng bậc nhất Đông Nam Á lại suy tàn nhanh đến thế… Đó là những ý kiến bình luận khá sâu sắc. Các bài viết về nhân vật lịch sử, như Trạng nguyên Khương Công Phụ hay bài Nhàn đàm về Chúa Trịnh anh đều có những ý kiến bàn thêm về cái đúng, cái sai do lịch sử, do người viết trước để lại. Ở mảng “Bình thơ”, tác giả thể hiện sự cảm nhận tinh tế và có những so sánh liên tưởng khá thú vị, như bình bài ca dao Thằng Bờm, bài Tình khúc tuổi 50 của Kao Sơn, bài Lơ ngơ một mình của Phạm Phương Lan. Lúc bình thơ ngòi bút của anh tràn đầy cảm hứng thơ, phát hiện được vẻ đẹp tiềm ẩn trong tứ thơ, trong hình ảnh, nhip điệu… làm toát ra giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ mà tác giả muốn gửi một thông điệp nào đó tới bạn đọc. Người thứ hai mà tôi muốn nhắc đến là nhà thơ Nắng Xuân (Nguyễn Thanh Toàn): Anh là giảng viên khoa Thủy sản ĐHCT, yêu thích văn chương. Ngoài giảng dạy anh còn là Chủ nhiệm CLB Thơ ca Ninh Kiều, phụ trách nhóm “Gia đình Áo trắng” (phụ san báo Tuổi trẻ) của Cần Thơ, tham gia CLB thơ Đường Cần Thơ… Ở cả hai thể loại Thơ và PBVH anh đều có những gặt hái thành công. Vậy thì, các kiến thức về PBVH có cần cho nhà văn khi sáng tác văn học hay không? Các bạn hãy tìm lời giải. Xin gợi ý vài điều: – Các tác giả nên đọc nhiều, đọc cả những tác phẩm có ý trái chiều mà mình không yêu thích để nắm bắt những ý phản biện. Rất cần đọc tác phẩm của các nhà văn lớn trong và ngoài nước. Nếu có điều kiện hãy đọc các giáo trình Đại học về Lý luận văn học hiện nay. – Khi chưa hiểu một từ hãy tra từ điển ngay (từ điển Tiếng Việt, từ điển Hán Việt…). Riêng các từ địa phương (phương ngữ) không có trong từ điển thì hỏi thêm những người khác… – Cần tìm hiểu các phương pháp sáng tác, các trào lưu văn học, mối quan hệ giữa “cuộc sống – nhà văn – tác phẩm” để xem tác phẩm của mình có tác dụng gì với bản thân và gửi thông điệp gì tới cuộc sống. – Luôn trả lời các câu hỏi trước khi viết: Viết cái gì (nội dung), viết để làm gì? (mục đích), viết cho ai? (đối tượng đọc), viết như thế nào? (phương pháp viết). Tình hình văn học ở Cần Thơ hiện nay: Văn học ở khu vực ĐBSCL nói chung và TP Cần Thơ nói riêng có bề dày lịch sử và rất giàu tiềm năng, là vùng đất trẻ nhưng có truyền thống văn học đáng tự hào với những danh nhân: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Lê Quang Chiểu. Các nhà văn lớp trước và các nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã làm giàu thêm truyền thống văn học của địa phương. Nhìn lại những tác phẩm văn học của Cần Thơ thời gian qua trong nền kinh tế tri thức hội nhập, đã có những mặt mạnh và hạn chế đáng lưu ý. Cái mạnh là tác giả luôn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, đặc biệt là những yếu tố mang sắc thái Nam Bộ trong mỗi trang viết. Đọc tác phẩm của nhiều nhà văn Cần Thơ ta thấy mỗi tác giả đều có sự tìm tòi, sáng tạo theo xu hướng mới. Các giá trị “phi vật thể” đó không những là tiếng nói tâm hồn của con người một vùng, một miền mà rộng hơn nó còn là tiếng nói của một cộng đồng với Tổ quốc. Đội ngũ sáng tác văn học ở Cần Thơ có bước kế thừa và phát triển. Văn xuôi mạnh hơn thơ, nhất là về truyện ngắn và ký. Nhiều tác giả đã xuất hiện trên tạp chí, trên các báo trung ương và địa phương: Về văn xuôi có: Nguyễn Kim Châu, Trần Minh Thuận, Nguyễn Ngọc Tuyết, Đặng Hoàng Thám, Nhật Hồng, cố nhà văn Nguyễn Khai Phong, Lương Minh Hinh, Nguyễn Thị Thanh Ngọc, Lâm Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thanh Huệ, Hồ Kiên Giang, Phạm Văn Thuý, Huyền Văn, Ngọc Hương, Cao Thanh Mai, Nguyễn Hồng Chuyên, Hoàng Khánh Duy, Phát Dương, Phong Dương. Về thơ có: Lê Chí, Trúc Linh Lan, Trần Thanh Chương, Nguyễn Trung Nguyên, Phù Sa Lộc, Huỳnh Kim, Nguyễn An Bình, Phan Duy, Phan Huy, Huệ Thi, Phan Nguyệt Ảnh, Minh Nguyệt, Nắng Xuân, Hoàng Viện … Một số tác giả viết cả thơ và văn xuôi và đã có những thành công đáng khích lệ. Đời sống văn chương có sôi nổi hơn trước, nhưng ít tranh luận về học thuật, về phương pháp sáng tác. Các cây bút trẻ còn ít, số hội viên lớn tuổi có phần chững lại. Tuy hội viên khá đông nhưng hội viên được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam còn quá ít (hiện nay chỉ có 8 hội viên, thua An Giang, Bến Tre…). Qua các cuộc thi thơ, truyện, ký ở cấp khu vực và cấp tỉnh, các tác giả của Cần Thơ thường đạt giải nhưng giải cao còn ít. Mặt hạn chế của một số tác giả là vốn tri thức, lý luận và thâm nhập thực tiễn chưa nhiều nên tác phẩm ít có sức khái quát chiều rộng lẫn chiều sâu. Phần lớn các tác phẩm thơ cũng như truyện còn nặng về tường thuật, miêu tả, kể lể, giãi bày tâm sự đơn thuần, khai thác mảng đời tư… Sự tìm tòi, khám phá để có sự cách tân về ngôn ngữ, thể loại còn ít. Số tác giả viết tiểu thuyết càng rất ít. Kết luận: Lý luận PBVH có thể xem là một chìa khóa để ta có thể mở cửa tiếp nhận và vận dụng nhiều điều cần và đủ góp phần làm cho tác phẩm có sức nặng hơn. Cần Thơ là vùng đất còn trẻ, giàu tiềm lực, tôi tin rằng tương lai sẽ có những tác phẩm văn học hiện đại, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, góp phần làm đẹp, làm giàu kho tàng văn học Cần Thơ nói riêng và văn học nước nhà nói chung. L.X

Khu Vườn Sáng Tác

HỒN THƠ DÂNG SÓNG NHẠC (77 CA KHÚC PHỔ THƠ NGUYỄN NGỌC HẠNH)

HỒN THƠ DÂNG SÓNG NHẠC (77 CA KHÚC PHỔ THƠ NGUYỄN NGỌC HẠNH)

Nhà thơ-nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha Trong nghệ thuật, thơ thường giao hòa với các loại hình khác như kịch, họa, âm nhạc... một cách rất tự nhiên, nhưng khắng khít nhất vẫn là thơ phổ nhạc để trở thành ca khúc. Người ta có thể đếm được số tác phẩm kịch thơ từ Tiếng Địch sông Ô (Phạm Huy Thông), Vân muội (Vũ Hoàng Chương), Hận Nam Quan, Kiều Loan (Hoàng Cầm), Bóng giai nhân (Yến Lan - Nguyễn Bính) v.v... Cũng có thể thấy những họa phẩm minh họa thơ Hồ Xuân Hương của Bùi Xuân Phái, minh họa Kiều của Nguyễn Tư Nghiêm hay triển lãm thơ-gốm của Lê Thiết Cương... Nhưng không thể đếm xuể những bài thơ được phổ nhạc trở thành những ca khúc nổi tiếng. Hầu như nhà thơ nào cũng có một vài bài thơ phổ nhạc. Song thơ thường xuyên được phổ nhạc để tạo ra một kỷ lục thì chỉ thấy trước đây có nhà thơ Tạ Hữu Yên và thần đồng thơ Trần Đăng Khoa (nay là Phó Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam)... Và đến hôm nay là Nguyễn Ngọc Hạnh sống ở thành phố Đà Nẵng, nhưng quê anh tận đầu nguồn sông Vu Gia, Đại Lộc, Quảng Nam. Sở dĩ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh có duyên được nhiều nhạc sĩ chú ý đến vậy, có lẽ là do hồn thơ Hạnh dâng sóng nhạc sinh ra bao giai điệu dập dồn như sóng biển Tiên Sa xô dạt vào bờ bãi sông Hàn từng giây, từng phút. Điều hết sức thú vị là có những bài thơ của Hạnh được đến hai, ba nhạc sĩ cùng phổ thành ca khúc. Phan Huỳnh Điểu, Đình Thậm và Trịnh Tuấn Khanh, mỗi người một cảm xúc, một cách tiếp nhận khác nhau thông qua giai điệu riêng của mình để đến với “Làng” của Nguyễn Ngọc Hạnh. Cái làng ấy ra đi với nỗi lòng của những người con xa xứ trong lời thơ ý nhạc của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đầy vơi thương nhớ quê nhà. “Ký ức làng quê” của Trịnh Tuấn Khanh với giai điệu bồng bềnh đằm thắm, chất chứa bao hoài niệm tuổi thơ. Và đến khi nhạc sĩ Đình Thậm trở về thăm làng quê Nguyễn Ngọc Hạnh, quê hương người bạn tri âm của mình bên con sông Vu Gia, Đại Lộc, thì bỗng nhiên giai điệu vỡ òa, bùng cháy, “Làng” trong thơ Hạnh trở thành “Làng trong tôi” thân thuộc như chính đất mẹ quê hương Đình Thậm. Hai câu thơ hay của Nguyễn Ngọc Hạnh mà nhiều người thuộc: “Xưa tôi sống trong làng/ Giờ làng sống trong tôi” từ cuối bài thơ được nhạc sĩ đưa lên trở thành câu mở đầu cho bài hát đầy ấn tượng. Và từ đó, giai điệu cứ tràn đầy trào dâng bao cảm xúc, chất chứa hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, nơi “con sông quê, bóng núi chập chờn”... Và, “Đà Nẵng trên cao” là bài hát cũng được nhạc sĩ Trọng Đài gần như đưa nguyên vào giai điệu và cả tên bài thơ vào ca khúc. Còn với Lê Anh thì nó hóa thành “Bài thơ trên cao” chót vót Bà Nà với những sắp xếp theo cách cảm riêng của mình. Cách nào cũng có cái hay riêng của từng nhạc sĩ, tất cả đều chắp cánh cho bài thơ bay lên những cung bậc chất ngất trong vòm trời sáng tạo, đa chiều. Mà cũng chẳng hiểu vì sao nhạc sĩ Trọng Đài lại phổ rất nhiều thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh, đến cả chục bài. Có lẽ nhạc sĩ và nhà thơ bắt được tần số cộng hưởng giữa thi ca và âm nhạc, giữa tri âm, buồn vui bất chợt giữa cuộc đời này. Trong đó, bài “Biển lặng” mà Trọng Đài phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh lại có một giao thoa cùng nữ nhạc sĩ Quỳnh Hợp trong ca từ và cả điệu thức La thứ. “Biển lặng” của Trọng Đài thực sự là biển lặng rất mi-nơ, chút ít giông gió thì cũng chỉ là một thoáng gợi ma-giơ bởi nốt Đô thăng. Còn ở Quỳnh Hợp thì có vẻ như lặng mà không lặng. Điều đó được xuất hiện trong đoạn codo được điệp khúc cho đoạn kết của bài hát. Sau khi đã cho biển thật lặng bằng cách trở về chủ âm ngỡ như đã an bài, nữ nhạc sĩ tinh quái đẩy giai điệu lên bất ngờ với một hòa âm của điệu thức Đô trưởng - điệu thức của hạ át âm với chủ âm La - điệu thức đồng hóa biểu với điệu thức La thứ. Cũng là gợi chút mi-nơ sang ma-giơ những không phải là Đô thăng mà là Fa bình rồi sau đó mới chịu về La thứ. Song khi quay lại thì không kết ở chủ âm mà ở át âm mi làm cho ca khúc chơi vơi, chênh vênh một vẻ đẹp thật nữ tính. Một variante khác với nhạc sĩ Trọng Đài. Thế mới thấy sáng tạo thật thú vị, chẳng ai giống ai. Ai cũng thể hiện được cái hay của mình. Cũng đều dâng lên từ hồn thơ, nhưng sóng nhạc cứ dập dìu theo một tần số cảm xúc khác biệt nhau. Đấy là những điều thú vị mà ở các tuyển tập thơ phổ nhạc khác có thể chưa từng thấy; là cái làm nên sự say đắm của “Khúc ru trầm”, 77 ca khúc phổ thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh. Còn với chàng “cao bồi Texas” Nguyễn Cường thì hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh được chàng dìu dắt vào một khúc nhạc chiều (Serenade) cũng ở điệu thức Đô trưởng nhưng không ngẩn ngơ luyến tiếc như Khúc nhạc chiều của Enrico Toselli mà Phạm Duy từng dịch lời: “Lắng trong tiếng chiều ngân/ Nhạc dập dìu ái ân” mà là sự ngạc nhiên hồn hậu: “Mưa cong vút lên trời hoàng hôn/ Chiều chậm trôi mờ xa vơi đầy/ Thơ bay vút lên lưng chừng mây/ Như là em rơi trong thu gầy”. Bản “Serenade -Thu rơi” là một ấn tượng “song kiếm hợp bích” giữa nhà thơ và nhạc sĩ. Đấy là với Nguyễn Cường. Còn với Đình Thậm, thì ca khúc “Đêm xa làng” phổ bài thơ cùng tên (đoạt giải Nhì, không có giải Nhất của Hội nhạc sĩ VN 2019), là một cách bứt phá trong sự chuyển đổi bút pháp: đoạn đầu ở điệu thức rê thứ, đoạn sau lại chuyển điệu sang rê trưởng, nhưng cách chuyển không có dấu vết gì của nhạc tiền chiến hay nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Đình Thậm không ngờ chính hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh đã khơi gợi tố chất rất bản thể trong anh, để nó bật tung giai điệu lên một cách khác thường. Nhạc sĩ Hoài An, tác giả của “Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống, Tình thơ, Tình Khúc Vàng...” nổi tiếng cũng rung động cùng hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh bằng cảm giác người đàng trong ra thăm Hà Nội qua “Hà Nội mình tôi”. Đọc giai điệu lên, nghe thương lạ: “Chỉ mình tôi côi cút phố đêm/ Ngỡ như lạc vào cõi khác/ Ở đây bốn bề dịu ngọt/ Mà bơ vơ từng bước lặng thầm”... Còn nhạc sĩ Thế Bảo thì lại cảm nhận sự bơ vơ của mình ở Hà Nội khác với Hoài An qua “Hà Nội phố đêm”. Có lẽ vì anh có tâm trạng của một người đã từng học, từng sống với Hà Nội một thời, cho nên khi trở lại Thế Bảo có những cảm xúc thật tràn trề, dào dạt. Điều đó thấy rõ ngay khi anh dùng chùm luyến bốn nốt móc kép cho một chữ “còi” trong ca từ: “Anh trôi theo tiếng còi tàu”. Tiếp theo là những nhịp ngắt như tiếng thở dài: “Mông lung - mông lung/ xao xác đến mông lung” rồi “Heo may - heo may/ tan chảy đến tận cùng”. Và đến khi không chịu được nữa, anh đã kéo tác giả thơ đi theo sự thăng trầm của chính mình bằng một quãng tám tiến, quãng bảy tiến và quãng tám lùi: “Phờ phạc phố - phờ phạc đêm - lối về nơi phố cổ...” lặng thầm. Tác giả trẻ Nguyễn Trần Đức Anh thì trôi theo cùng Nguyễn Ngọc Hạnh trong “Chiều cuối năm” với một nhịp 3/4 lạ, nghiêng về tiết điệu bolero: “Đâu còn em bên tôi/ Một mình bơ vơ lắm/ Xa rồi người yêu ơi/ Chiều đi qua một bóng”, thật buồn. Cũng như bài “Làng” nói ở trên có đến ba nhạc sĩ phổ nhạc, bài thơ “Ngõ hẹp” của Nguyễn Ngọc Hạnh có một cái tứ lạ khiến cả ba nhạc sĩ: Võ Hoài Phúc, Trịnh Thùy Mỹ, Trương Công Ảnh đi tìm sự giằng xé nội tâm qua những giai điệu sâu lắng, chìm đắm trong lối mòn đường quê của nhà thơ: “Tôi đã mòn/ và đời thôi đã hẹp/ lối nhỏ dần nhỏ dần/ lấp khuất/ ngày thì xa mờ mịt/ chỉ lòng tôi chưa cạn đêm sâu”. Nhạc sĩ Võ Hoài Phúc đã thành công hơn khi cùng hồn thơ Nguyễn Ngọc Hạnh chậm rãi, tự sự về nơi “Ngõ hẹp” đầu nguồn... Một trong các nhạc sĩ trẻ trong “Khúc ru trầm”, có lẽ là Huỳnh Văn Tấn. Còn nhớ ngày Nguyễn Ngọc Hạnh ra mắt tập thơ “Phơi cơn mưa lên chiều” ở Hà Nội, Tấn xuất hiện và ôm đàn guitar hát những ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh gây bao xúc động cho người xem, Vốn là người đồng hương thân thiết với Nguyễn Ngọc Hạnh, Tấn đã có những cộng hưởng của những người sinh ra từ làng bên con sông quê Đại Lộc không chỉ là nỗi nhớ quê mà còn cả niềm đau ngay chính từ trong bài hát “Khúc ru trầm” mà nhạc sĩ đã phổ từ bài thơ “Nhớ con” của Nguyễn Ngọc Hạnh. Hạnh đã chọn tên cho tuyển tập 77 ca khúc phổ thơ này là “Khúc ru trầm” như một hoài niệm nhớ thương về đứa con gái xinh đẹp vốn có năng khiếu và rất yêu âm nhạc đã ra đi quá sớm. Các nhạc sĩ phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh thuộc các thế hệ nhạc sĩ khác nhau từ thời tiền chiến đến hậu chiến, rồi đến các thế hệ nhạc sĩ của thế kỷ mới bây giờ. Không chỉ các nhạc sĩ trong Nam như Thế Bảo, Hoài An, Võ Hoài Phúc, Quỳnh Hợp, Minh Trí, Trung Kim, Quỳnh Lệ, Trịnh Thùy Mỹ… mà còn có nhiều nhạc sĩ ở ngoài Bắc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh như Trọng Đài, Trọng Lưu, Nguyễn Cường, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Vĩnh Tiến (tác giả “Bà tôi” nổi tiếng), Nguyễn Trần Đức Anh (Hà Nội), Dương Văn Lợt (Kon Tum), Lê Anh (Huế). Đặc biệt, nhiều nhạc sĩ ở Quảng Nam, Đà Nẵng đã dâng sóng nhạc cùng nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh như Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Huy Hùng, Huỳnh Ngọc Hải, Đinh Gia Hòa, Diệp Chí Huy, Trịnh Tuấn Khanh, Nguyễn Đình Thậm, Quang Khánh, Nguyễn Duy Khoái, Nguyễn Xuân Minh, Thái Nghĩa, Trần Ái Nghĩa, Nguyễn Đức, Thu Nguyễn, Nam An, Thái Phú, Phan Trường Sơn, Trương Công Ảnh, Huỳnh Văn Tấn, Hoàng Bích. Và 2 nhạc sĩ ở Hải ngoại là Phạm Đăng Khương hiện đang sống tại bang Aiona, Hoa Kỳ với ca khúc “Bến mê” và đặc biệt nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Tiến ở Texas, người đã phổ bài thơ “Qua đò nhớ mẹ” của Nguyễn Ngọc Hạnh cách đây mấy mươi năm. Ca khúc này từng phát sóng trên VTV1 và được nhiều ca sĩ tên tuổi biểu diễn trong và ngoài nước. Bởi thế nên việc in tuyển “77 ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh” không chỉ là một tổng kết của một chặng đường thơ, mà “Khúc ru trầm” còn là những cuộc giao thoa đầy kỷ niệm giữa thơ và âm nhạc trên con đường sáng tạo của mình. Tuyển tập Khúc ru trầm với 77 ca khúc phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh chính là một đánh giá đích thực về phẩm chất thơ của người thơ này mà có thể rất nhiều bài viết về thơ anh vẫn chưa nói hết. Nó khẳng định một chặng đường thơ mà Nguyễn Ngọc Hạnh đã khiêm nhường dâng hiến cho đời. Hà Nội, tháng 11.2021

Góc Nhìn Tác Phẩm

Bản lĩnh quân tử trong văn học Nguyễn Huy Thiệp

Bản lĩnh quân tử trong văn học Nguyễn Huy Thiệp

Có thể dự đoán rằng, sau khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, sẽ lại có một “làn sóng thứ hai” khi những tác phẩm của anh, đặc biệt là những truyện ngắn, xuất hiện trở lại, và lần này sẽ găm rất sâu vào lịch sử văn học đương đại Việt Nam. Nhà văn, có thể giống như nhân vật trong tác phẩm của mình, có thể không. Nhưng dù không giống với nhân vật của mình, thì nhà văn đích thực đều gửi gắm vào nhân vật khí chất sống của mình, bản lĩnh sống của mình, nhân sinh quan của mình. Sự gửi gắm ấy ở Nguyễn Huy Thiệp là rất đậm nét. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (1950 – 2021) Tôi mới đọc một đoạn của một nhà văn, nhà phê bình Việt hải ngoại, trong đó trích vài đoạn thư của Nguyễn Huy Thiệp gửi mình, qua đó đánh giá Thiệp vẫn là “nhà văn của nước nhược tiểu”. Nhưng tôi nghĩ, là nhà văn của “nước nhược tiểu” thì đã sao? Có thể nhà văn ấy chưa rành lắm chuyện giao dịch để tác phẩm mình được dịch và in ở nước ngoài, văn phong trong vài bức thư ấy có thể hơi quá khiêm nhường. Nhưng khiêm nhường đâu phải là phẩm chất xấu, càng không phải phẩm chất của nhà văn “nước nhược tiểu”. Ngược lại, khiêm nhường thuộc về văn minh là một phẩm chất rất đáng trân trọng. Phải thú thật là lâu nay tôi không đọc Nguyễn Huy Thiệp, nhưng những truyện ngắn thời kỳ đầu của Thiệp đã khiến tôi vô cùng sung sướng khi đọc chúng. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn không “tiến bộ từ từ”, anh làm một nhát xong ngay. Xuất hiện là gây sóng gió, là hào quang rỡ ràng, là phân đôi ngay trận tuyến giữa những người thích văn mình, ủng hộ văn mình và những người ghét văn mình, dị ứng với văn mình. Làm được điều đó không hề dễ. Tôi vẫn nhớ cái ấn tượng đầu tiên khi đọc những “Tướng về hưu”, “Kiếm sắc”, “Phẩm tiết” và sâu một khoảng ngắn là “Những người thợ rừng”, “Sang sông”. Nguyễn Huy Thiệp bằng những tác phẩm đầu tay ấy, đã khẳng định vị trí chắc nịch của mình trên văn đàn và không chỉ văn đàn Việt. Đúng là, nếu anh ở Mỹ hay ở châu Âu, tác phẩm của anh có thể gây chấn động ở những văn đàn lớn nhất. Nhưng anh là người Việt, ở trên đất Việt Nam, anh phải chịu những khó khăn mà những nhà văn hàng đầu Việt Nam đều phải chịu. Điều đó chưa hẳn đã dở. Khi hoàn cảnh càng khó khăn, thậm chí khắc nghiệt thì nó lại là môi trường kích thích nhà văn vượt lên với những ý tưởng xuất thần. Nguyễn Huy Thiệp đã làm được điều đó. Tôi nhớ, trong một số truyện ngắn thuộc thời kỳ đầu của Thiệp, thỉnh thoảng anh có chen vào vài đoạn thơ. Tôi đọc và hiểu là anh chịu ảnh hưởng của Bertolt Brecht nhưng ảnh hưởng tốt và thơ anh hay, hợp với truyện anh viết. Nó như những “trữ tình ngoại đề”, thứ không hề thiếu trong kịch Brecht nhưng không bao giờ thừa. Sau này, Nguyễn Huy Thiệp còn viết kịch và văn đối thoại của anh đưa vào kịch là quá hợp. Nó vừa sắc sảo, vừa mông lung. Đó là nhà văn không từ chối phương Tây, nhưng hồn cốt của anh vẫn thuộc về phương Đông, thuộc về Việt Nam. Có những đoạn văn của Thiệp là sâu thẳm, một kiểu sâu thẳm mà trong văn xuôi Việt Nam, tới Nguyễn Huy Thiệp mới thấy có. Thế cũng là quá đủ cho một nhà văn, nó hơn mọi giải thưởng, hơn có triệu người đọc, hơn những danh hiệu thực chất và không thực chất mà nhà văn có thể được nhận. Tôi rất vui, vì khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, những đánh giá về văn học của anh, về di sản mà anh để lại là rất thống nhất. Trưa ngày 24/3, tôi đang ngồi xe ô tô từ Bình Định chạy ra, nghe bài viết về lễ tang Nguyễn Huy Thiệp, một bài viết có nhận định chứ không chỉ đưa tin, bài viết đã khiến tôi rất chú ý. Vì nó khá sâu sắc, không rào đón và những ngợi ca trong đó là thật lòng. Có thể dự đoán rằng, sau khi Nguyễn Huy Thiệp qua đời, sẽ lại có một “làn sóng thứ hai” khi những tác phẩm của anh, đặc biệt là những truyện ngắn xuất hiện trở lại. Và lần này sẽ găm rất sâu vào lịch sử văn học đương đại Việt Nam, sẽ được đón nhận với rất nhiều người đọc có chất lượng và sẽ được đánh giá phong phú hơn là những lời ngợi ca đơn giản mà mấy hôm nay chúng ta đã đọc, đã nghe. Một nhà văn có thể sống bình thường như mọi người khác, nhưng toàn bộ cái “bản lĩnh quân tử” của anh đã thể hiện hết trong văn anh, thì đó là nhà văn không có gì phải hối tiếc. Nghĩ cho cùng, chỉ tác phẩm mới đánh giá nhà văn chính xác nhất, chứ không phải những thứ khác. THANH THẢO        

Nhịp Sống Nhà Văn

Nhà văn Triệu Xuân: Sống và viết trong cơn bạo bệnh!

Nhà văn Triệu Xuân: Sống và viết trong cơn bạo bệnh!

Nhà văn Triệu xuân sau thời gian bệnh nặng đã từ trần tại TPHCM hưởng thọ 70 tuổi. Tưởng nhớ một nhà văn suốt đời nặng nợ với duyên nghiệp, xin trân trọng giới thiệu bài viết về ông… Nhà văn Triệu Xuân Nhà văn Triệu Xuân, tác giả những cuốn tiểu thuyết đình đám một thời như Giấy trắng, Trả giá, Bụi đời, Cõi mê…dù mang trong người bạo bệnh nhưng vẫn kiên gan, lạc quan chiến đấu với nó. “Cuộc sống với rất nhiều thử thách khắc nghiệt nhưng tôi yêu vô cùng. Cuộc đời này đẹp vô cùng…”- ông tâm sự – “cả cuộc đời Triệu Xuân sống để viết và giờ vẫn vậy”! 1. Còn nhớ sau Tết Kỷ Hợi (tháng 2.2019), nhà văn Triệu Xuân nhập viện để cắt nội soi phì đại lành tuyến tiền liệt. Sau khi làm hàng loạt xét nghiệm, các bác sĩ chẩn đoán ông mắc căn bệnh ung thư phổi, giai đoạn cuối, khối u lớn, di căn xương! Tôi hỏi thăm, ông bình tĩnh cho biết: “Điều trị bệnh mỗi ngày tốn gần 4 triệu đồng! Liệu trình kéo dài 2 năm, nếu Trời, Phật còn cho sống! Bởi thế, đợt này ra sách Sống & Viết, Fahasa mua trọn gói cho chú, chú mừng lắm! Cám ơn Fahasa nhiều lắm!”. Biết tôi muốn tìm đọc lại toàn bộ các cuốn tiểu thuyết của ông, ông nhắn: “Nay chú đã tìm được mấy cuốn, không được đủ cháu ạ…Chú gửi chuyển phát nhanh tới cháu 5 cuốn sách, có 3 cuốn tiểu thuyết tái bản cách nay chục năm…”. Ngày thứ Tư 19.2.2020, sau 2 ngày, nhà văn Triệu Xuân gửi sách từ TP.HCM ra Hà Nội, tôi đã nhận được sách với niềm vui sướng vô bờ của một kẻ yêu sách! Đến trưa thứ Tư, 19.2, đã thấy ông nhắn ra: “Cháu đã nhận được sách chưa?”. Tôi vui mừng hồi đáp: “Cháu đã nhận được sách rồi, chú ạ!”. Nhà văn Triệu Xuân bao giờ cũng ân cần với lớp hậu sinh như thế! Rồi bất ngờ, hôm 5.3.2020, tôi nhận được tin nhắn của Triệu Xuân: “Phùng Hoàng Anh! Bệnh chuyển lẹ quá. Chú không còn nhiều thời gian nữa. Chú đang tập hợp bài để in cuốn Triệu Xuân nghĩa tình bạn hữu, 400 trang, dự kiến ra mắt vào tháng 5.2020. Tập sách gồm những bài của các nhà văn, nhà báo, bạn đọc viết tác phẩm và tác giả Triệu Xuân, từ đầu thập niên 80 thế kỷ 20 đến nay. Mong có bài của cháu”. Nhận được tin nhắn của chú mà tôi ứa nước mắt, như vậy là nhà văn Triệu Xuân đang phải chạy đua với thời gian để tận chiến với cơn bạo bệnh đang tàn phá sức lực của ông hàng ngày. Ông cho biết vẫn cố gắng hết sức để điều trị bệnh tật, chỉ mong sao mau chóng khỏi bệnh để tiếp tục sự nghiệp văn chương còn đang dang dở. “Tôi ăn uống bình thường, nhưng chỗ bệnh đã di căn vào xương thì đau lắm. Dù sao cũng phải cố gắng thôi. Tôi đang kiên gan, lạc quan chiến đấu cùng bệnh tật. Cuộc sống với rất nhiều khó khăn, thử thách khắc nghiệt nhưng tôi yêu vô cùng. Cuộc đời này đẹp vô cùng…” – nhà văn Triệu Xuân bộc bạch. 2. Trong thời gian điều trị bệnh hơn một năm qua, công việc mà nhà văn Triệu Xuân làm được là gom góp tư liệu, biên tập và cho ra mắt Sống & Viết, tập phê bình – tiểu luận – chân dung vào đầu năm 2020. Tập sách có dung lượng khá đồ sộ: 612 trang, với nội dung phong phú. Thông qua hơn 70 đề mục văn chương, văn hóa, nhiều nhất là những bài phê bình, tiểu luận, lời tựa cho các tác phẩm, các bộ tuyển tập, toàn tập của các nhà văn, Sống & Viết đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích về văn học Việt Nam đương đại. Sống & Viết khắc họa chân dung của các văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo, dịch giảmà ông quen biết như: Trần Văn Giàu, Phan Quang, Phạm Tường Hạnh, Nguyễn Hữu Dũng, Lương Văn Hồng… Nhưng nhiều nhất là các nhà văn: Thu Bồn, Nguyễn Khải, Lê Văn Thảo, Viễn Phương, Trần Hoài Dương, Nghiêm Đa Văn, Xích Điểu, Nguyễn Lâm, Nguyễn An Định, Bùi Ngọc Tấn…Không chỉ đề cập những nhà văn lớn, có vai vế trong làng văn học, Triệu Xuân dành nhiều trang viết trân trọng những nhà văn “cả đời lặng lẽ sống và viết” như Hoài Anh. Triệu Xuân đã giúp đỡ nhà văn Hoài Anh ra mắt rất nhiều tác phẩm để có cơ hội “sánh” với Tô Hoài về số lượng đầu sách. Đọc Sống & Viết là đọc chuyện một người để hiểu thêm nhiều người. 3.Triệu Xuân sinh năm 1952 (Nhâm Thìn) tại Hải Dương- xứ Đông. Còn tôi sinh năm 1976 (Bính Thìn), tôi kém ông đúng hai giáp (24 năm), tại Hà Nội – vùng xứ Đoài, bởi thế tôi thường xưng hô, gọi ông là chú, xưng cháu, tôi biết ông từ năm 2011, khi ông có bài viết đăng trên báo, nói về chuyến đi của ông từ TP.HCM ra Bắc, có qua thăm nơi thờ danh nhân văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn, khi tới nhà thờ, ông ngạc nhiên, nơi thờ một nhà bác học lừng danh mà tủ sách chỉ lèo tèo vài cuốn… Ngay sau chuyến đi ấy, về TP.HCM, ông cùng bạn bè của mình trong Nhóm Văn chương Hồn Việt, gửi ra theo đường tàu, hàng trăm đầu sách văn học tặng Nhà lưu niệm – Từ đường Lê Quý Đôn. Sau dịp ấy, tôi cũng ngỏ lời xin ông gửi ra Bắc tặng một thùng sách, trị giá theo bìa gần 10 triệu đồng để tặng cho Thư viện Trường THCS Vân Hòa, huyện Ba Vì, một xã miền núi của tỉnh Hà Tây (cũ), và nay thuộc thủ đô Hà Nội. Kể từ sau đó, tôi thường xuyên liên lạc với ông. Có khi tôi vừa post xong những tấm hình chụp những khóm hoa hồng ở vườn nhà lên trang Facebook cá nhân, đã nhận ngay được sự tương tác và phản hồi từ ông và người vợ hiền, hết mực chăm sóc ông là cô Lê Hạnh, hỏi về cách chăm sóc cây hoa hồng như thế nào… Tôi chia sẻ với cô chú cách chăm sóc hoa hồng. Rồi, tôi được nghe cô Hạnh chia sẻ về tình hình sức khỏe của chú hiện thời ra sao… Cuộc đời nhà văn Triệu Xuân thật năng động, phong phú và ý nghĩa! Sống ở cả ba miền Tổ quốc, tiếp xúc nhiều loại người, xông xáo trong nhiều lĩnh vực… Nhờ có vốn sống phong phú đó, ông đã sáng tác hàng chục tiểu thuyết và truyện, ký có giá trị. Bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc rất khâm phục Triệu Xuân bởi ông là người luôn tiên phong, nhiệt thành tham gia các hoạt động văn nghệ trên nhiều cương vị khác nhau. Nhóm Văn chương Hồn Việt của ông, chỉ tính riêng số sách văn học gửi tặng các đơn vị, địa phương, thư viện, trường học trong toàn quốc trong 12 năm qua đã đạt tới con số gần 2 tỷ đồng (theo giá bìa). Là người tâm huyết với văn học, với mong muốn khích lệ niềm đam mê học văn và đọc sách văn học, từ năm 2006, nhà văn Triệu Xuân đã nêu ý tưởng sáng lập Quỹ Phát triển tài năng Văn học Việt Nam, được xã hội ủng hộ, trợ lực. Hầu hết tiểu thuyết của ông đều được các NXB tái bản nhiều lần. Ngoài tiểu thuyết, ông viết truyện ngắn, ký. Tập truyện ký chọn lọc Lấp lánh tình đời – NXB Văn học xuất bản năm 2007 cho thấy nhà văn rất sắc sảo trong các thể loại. Đưọc biết, ngay từ những năm 1980, Triệu Xuân từng được đi công tác ở nước ngoài nhiều lần, thường là đi một mình cả tháng trời. Ông đã tới hầu hết các nước lớn, và khi về nước đã cho in hàng loạt bút ký văn học ngồn ngộn vốn sống, hiện thực xứ người… Ông bảo rằng, đi khảo sát nước người để suy ngẫm về hiện tình đất nước mình, và vì thế, hàng loạt bút ký đã ra đời. Tôi viết bài báo này tha thiết gửi tấm lòng kính phục, yêu quý nhà văn Triệu Xuân. Tôi tin rằng với một người hiền như ông thì chắc chắn sẽ có phép nhiệm màu xuất hiện để giúp ông vượt qua giai đoạn gian nan nhất, chiến thắng bệnh tật, tiếp tục Sống & Viết! PHÙNG HOÀNG ANHBáo Thể Thao & Văn Hóa